Thiền Nguyệt
Chương 38: Thái tử và thần phụ
Cuộc tranh cãi giữa Khương phu nhân và chưởng quỹ trang viên không kéo dài bao lâu.
Ngay khi nam nhân trên ngựa lướt qua, cả hai lập tức im bặt, cùng mồ hôi đầm đìa cúi đầu hành lễ.
Khương phu nhân lúc này sợ đến toát mồ hôi lạnh, trong lòng hối hận vô cùng.
Vừa rồi nàng gặng hỏi mãi “Rốt cuộc là ai dám cướp chỗ của ta”, tên chưởng quỹ này cứ ngậm chặt miệng không nói, còn luôn miệng khuyên nàng đừng hỏi thêm nữa. Khương phu nhân đương nhiên không phục, nàng là người đứng ra tổ chức, dẫn theo một đoàn người đến đây, kết quả mọi người lại không có chỗ ở, chẳng khác nào tát vào mặt nàng, nên nàng nhất quyết không đi.
Hơn nữa, xét về thân phận, nàng cũng chẳng thấp kém gì! Dù nàng không đủ mặt mũi thì trong đoàn xe còn có Tần Thiền Nguyệt kia mà. Tần Thiền Nguyệt dù không nhắc đến phu quân đã mất thì bản thân nàng ấy cũng có tước vị Quận chúa. Khương phu nhân vì thế mới không chịu thua, cứ dây dưa mãi cho đến tận bây giờ.
Giờ thì hay rồi, nhìn thấy là Thái tử, chút “không phục” của Khương phu nhân lập tức bị dập tắt, chẳng dám hó hé nửa lời.
Nếu biết sớm đó là Thái tử, nàng đời nào dám gây ra chuyện này! Cả thiên hạ này đều là của Thái tử, vừa rồi nàng rốt cuộc đang tranh giành cái gì không biết!
Lỡ như bộ dạng hồ đồ quấy rối vừa rồi của nàng làm mếch lòng Thái tử, sau này biết phải làm sao đây!
Nhưng Thái tử trên ngựa sau khi nghe rõ đầu đuôi câu chuyện cũng không hề xua đuổi họ, mà thản nhiên nói: “Cô đột nhiên nảy ý định đến đây vây săn, tính ra là cô đã làm xáo trộn hành trình của Khương phu nhân. Đã có thứ tự trước sau, vậy thì hãy sắp xếp những phòng còn lại trong trang viên cho họ ở đi.”
Khương phu nhân rối rít tạ ơn, thầm nghĩ trong lòng, người đời đều nói Thái tử mặt lạnh lòng càng lạnh, là kẻ vô tình và nghiêm khắc, nhưng hiện giờ trông lại chẳng giống như vậy.
Theo lệnh của Thái tử, những chiếc xe ngựa còn lại cuối cùng cũng tiến vào Đại Biệt Trang Viên.
Đại Biệt Trang Viên không giống như những quán trọ thông thường chia thành tầng một tầng hai với các phòng sát vách nhau, mà được xây dựng theo kiểu từng viện lạc nối tiếp nhau. Đa số mỗi gia đình sẽ ở một viện riêng biệt, các viện cách nhau khoảng trăm bước, xen giữa là cảnh trí cây cỏ.
Hành lang dài, đình đài, hòn non bộ san sát, còn có cả những hàng phong được trồng ngay ngắn.
Đại Biệt Sơn vốn nổi tiếng nhiều cây phong, mùa hè xanh mướt, tới mùa thu lá đỏ rực cả cánh rừng. Đứng từ xa nhìn lại, rừng phong nhuộm đỏ chân trời, sắc thắm nhẹ vương trên nhành cây.
“Dừng xe ngồi ngắm rừng phong muộn, lá đỏ rực hơn hoa tháng Hai.”
Tổng cộng có mười hai gia đình, lần lượt được sắp xếp chỗ ở trong Đại Biệt Trang Viên. Thật khéo léo làm sao, viện của Tần Thiền Nguyệt lại nằm ngay cạnh viện của Thái tử điện hạ. Hai viện cách nhau chưa đầy trăm bước, ngăn cách bởi một rừng trúc nhỏ. Giữa rừng trúc có một ngôi đình, trong đình đặt sẵn cổ cầm cho người tới gảy khúc tiêu khiển.
Khoảng cách này không tính là gần, chắc hẳn cũng sẽ không làm phiền đến nhã hứng của Thái tử.
Hơn nữa, Tần Thiền Nguyệt vẫn còn nhớ lần trước Thái tử vô cớ bắt chuyện với Liễu Yên Đại, nên đặc biệt dặn dò nàng, nếu gặp Thái tử thì hãy đi vòng đường khác.
Tần Thiền Nguyệt không muốn làm phiền Thái tử, nhưng đám công tử đi cùng lần này lại hừng hực khí thế, nóng lòng muốn thể hiện.
Đều là con cháu thế gia, sau này nếu không có gì bất ngờ, họ đều có thể bước chân vào quan trường, dù bản thân không thi đỗ khoa cử thì cũng có thể nhờ bóng mát của gia đình mà được phong quan. Tuy chức vị không quá cao nhưng cuộc sống chắc chắn sẽ rất sung túc.
Và vẫn là câu nói cũ… chẳng có nam nhân nào không khao khát quyền lực.
Trong hầu hết trường hợp, nam nhân còn sùng bái kẻ mạnh hơn cả nữ nhân. Họ nhìn thấy Thái tử thì chẳng khác nào đám chó đói nhìn thấy một bữa tiệc ngon lành, sao có thể không lao tới nịnh bợ cho được? Chỉ là nam nhân biết cách tô vẽ cho bản thân hơn, bản thân nịnh bợ thì gọi là “đại trượng phu biết nhu biết cương”, còn nữ nhân nịnh bợ thì lại bị coi là tham tiền ích kỷ. Dù làm chuyện giống hệt nhau nhưng lại bị đánh giá hoàn toàn khác biệt.
***
Hôm đó, mọi người đã thu xếp xong xe ngựa, vốn định ngày mai mới vào rừng. Nhưng đám công tử không đợi nổi, hầu như vừa xong việc là lập tức cưỡi ngựa vào núi ngay.
Họ cũng chẳng phải muốn săn bắn gì, mà là đuổi theo dấu chân ngựa của Thái tử. Dù sao đường vào núi cũng chỉ có bấy nhiêu, Thái tử ở trong núi, họ cũng ở trong núi, sớm muộn gì chẳng gặp nhau.
Nếu may mắn được nói với Thái tử vài câu, biết đâu sau này lại được ngài để mắt tới?
Thế nên đám công tử ngay đêm đó đã vào núi, chuyện sau đó ra sao thì không ai rõ.
Dù sao thì đêm đầu tiên ở Đại Biệt Trang Viên, các nữ quyến đều được nghỉ ngơi yên ổn.
Đêm trong núi lạnh hơn trong thành nhiều, trông chẳng giống chớm thu mà cứ như đã vào cuối thu. Hơi lạnh thấm qua lớp áo, hương trầm vương vấn tỏa ra từ lư hương. Mọi người cuộn mình trong chăn, lắng nghe tiếng gió đêm gào thét nơi Đại Biệt Sơn thâm u.
Đến giờ Thìn ngày hôm sau, nắng vàng rực rỡ, ánh ban mai chan hòa đánh thức giấc mộng Trường An.
Lúc này, trong núi.
Tiếng chim hót líu lo xuyên qua cửa sổ gỗ, đánh thức mọi người khỏi cơn ngái ngủ. Trong núi mang một mùi hương cỏ cây tươi mát đặc trưng, cửa sổ vừa mở ra, làn gió trong lành đã ùa vào phả lên mặt.
Liễu Yên Đại cùng Tần Thiền Nguyệt thức dậy, cùng sửa soạn, phục trang gọn gàng tươm tất rồi ra ngoài tìm mọi người để chuẩn bị vào núi vây săn.
Trong Đại Biệt Trang Viên chỗ nào cũng thấy người, đi vài bước là gặp khách. Đám công tử đêm qua đi chơi đến nửa đêm giờ cũng đã về. Từng tốp người rầm rộ cưỡi ngựa tiến về phía trước, chuẩn bị vào sâu trong núi.
Trong núi có những con đường mòn được mở sẵn và một bãi đất trống đã được dọn sạch để dựng lều bạt. Bãi đất này cách Đại Biệt Trang Viên khoảng chừng hai nén nhang, mọi người cưỡi ngựa tới đó trước, sau đó tiểu sai và nha hoàn bắt đầu dựng lều tại chỗ, những người còn lại theo tư binh vào rừng săn bắn vui chơi.
Đám công tử, tiểu thư đồng loạt nhảy lên lưng ngựa.
Tần Thiền Nguyệt biết cưỡi ngựa, từ nhỏ nàng đã luyện qua bản lĩnh bắn cung trên lưng ngựa, giờ ở tuổi này việc lên ngựa giương cung cũng chẳng phải chuyện gì khó khăn. Nhưng Liễu Yên Đại thì không được, nàng vốn yếu ớt hơn.
Mà loài ngựa lại quá đỗi linh tính, thường hay bày trò trêu chọc dọa dẫm người khác.
Tần Thiền Nguyệt từng tự tay nuôi vài chú ngựa nhỏ. Có một con ngựa hồng đào tính khí như đứa trẻ nghịch ngợm, nếu gặp người nhút nhát không dám lên ngựa, con ngựa xấu tính này sẽ cố tình giậm vó dọa người ta không dám cưỡi.
Lại có con ngựa đen rất hay ăn vạ, đang chạy bỗng nhiên dừng phắt lại không chạy nữa. Người cưỡi nó nếu là một cô nương lòng dạ nhân từ chắc chắn sẽ không nỡ ra tay quất roi, chỉ biết ngồi trên lưng nó mà cuống quýt chẳng biết làm sao.
Nàng còn một con ngựa tinh quái nhất, lông trắng muốt, chuyên môn nằm lăn ra đất giả c.h.ế.t. Chỉ khi được cho ăn trái cây và cà rốt nó mới chịu đứng lên, nhưng hễ có người định cưỡi là nó lại lăn đùng ra giả c.h.ế.t ngay lập tức.
Nàng nuôi ngựa nhiều nên chỉ cần nhìn qua là biết con nào không thành thật. Chúng đều là những đứa trẻ bướng bỉnh, mỗi con một tính nết. Dù là con ngựa hiền lành nhất, hễ rời xa roi của phu ngựa là cũng sẽ cố tình gây loạn.
Nhiều ngựa hư như vậy, Liễu Yên Đại chẳng cưỡi nổi con nào. Tần Thiền Nguyệt bèn đặc biệt tìm một tên tư binh đi phía trước dắt dây cương cho Liễu Yên Đại, còn dặn dò nàng: “Nếu sợ quá thì xuống ngựa, về lều mà ăn thịt nướng.”
Liễu Yên Đại chẳng thấy sợ chút nào, nàng chỉ thấy mới lạ vô cùng.
Hơi nóng phả ra khi con bạch mã dưới thân khịt mũi khiến nàng thấy vô cùng thích thú, nàng không kìm được mà đưa tay xoa xoa đầu ngựa.
Những con ngựa này đều có bờm mượt mà, có vài chỗ còn được thắt thành những bím tóc nhỏ, buộc bằng những sợi dây đủ màu sắc trông vô cùng đáng yêu. Tay Liễu Yên Đại cứ thế sờ dần qua, thỉnh thoảng còn cầm bím tóc bờm ngựa lên rung rung.
Nàng chưa từng thấy ngựa thắt bím tóc bao giờ nha.
Vừa bắt đầu di chuyển, nàng càng thêm kinh ngạc, cứ sờ soạng con ngựa dưới thân mãi, thích thú không thôi.
Trong lúc đó, phía trước dường như truyền đến tiếng xôn xao nhè nhẹ, không biết là ai đến, hình như có người không ngừng bàn tán, lại có người xuống ngựa.
Liễu Yên Đại ngẩng đầu liếc nhìn một cái, chỉ thấy phía trước lố nhố bóng người và đuôi ngựa chồng chéo lên nhau. Đường núi quá dài, chuyện của người phía trước chắc cũng chẳng lan tới chỗ nàng được, nên nàng lại tiếp tục cúi đầu nghịch bím tóc ngựa.
Lúc bấy giờ họ đang đi trên con đường mòn trong núi, cả đám cưỡi ngựa trò chuyện rôm rả, người nói một câu ta đáp một lời, xung quanh náo nhiệt vô cùng. Một Liễu Yên Đại im lặng giữa đám đông trông thật chẳng mấy nổi bật.
Hôm nay nàng cởi bỏ bộ nhu quần rườm rà, thay vào đó là bộ đồ cưỡi ngựa màu đỏ rực. Nàng cũng tháo hết vàng bạc hoa tươi trên đầu, chỉ búi một kiểu tóc hoa bảo đơn giản sau gáy, cài một chiếc trâm bạc hình hoa sen. Trên mặt nàng không hề tô son điểm phấn, hoàn toàn để mặt mộc, nhưng dạo này nàng ăn uống tốt nên khí sắc hồng hào, môi đỏ răng trắng, trông như một đóa hoa đang độ rực rỡ nhất.
Đôi ủng nhỏ bằng da cừu ôm lấy cổ chân nàng, làm nổi bật đường cong tròn trịa của bắp chân. Chiếc đai lưng da bản rộng của bộ đồ cưỡi ngựa thắt chặt lấy vòng eo, eo nàng vốn không mảnh khảnh, bị đai lưng siết lại càng lộ rõ vẻ đầy đặn gợi cảm. Ngựa vừa di chuyển, nàng cũng lắc lư trên lưng ngựa, vẻ đẹp trập trùng như núi ngọc, khiến lòng người xao động.
Người đi tiên phong đưa mắt nhìn quanh, khẽ liếc qua nàng một cái rồi thản nhiên thu hồi tầm mắt.
Đoàn người cứ thế rầm rộ tiếp tục tiến sâu vào trong núi.
***
Cùng lúc đó, tại Trường An.
Hôm nay Hầu phủ vô cùng yên tĩnh.
Sau khi Tần Thiền Nguyệt và Liễu Yên Đại rời đi, trong phủ chỉ còn lại Nhị công tử Chu Trì Dã và Hà di nương.
Hà di nương kể từ khi Hầu gia qua đời liền trở nên im hơi lặng tiếng như con rùa rụt cổ dưới đáy hồ, tám trăm năm không thấy ló đầu ra, chỉ sợ bị ai đó đánh vào đầu. Còn Chu Trì Dã hôm nay cũng chẳng gây ra chuyện gì, mà từ sáng sớm đã ra khỏi cửa.
Kể từ khi bàn tay bị phế, hắn gần như cắt đứt liên lạc với đám bằng hữu cùng luyện võ trước đây. Có người tìm đến, hắn cũng coi như không thấy. Vậy mà hôm nay, đây là lần đầu tiên hắn chủ động ra ngoài.
Rời khỏi Hầu phủ, hắn không mang theo bất kỳ ai, một mình cưỡi ngựa ra khỏi phường Trường Bình, tiến vào phường Phẩm Trà.
Phường Phẩm Trà là một trong những khu phố náo nhiệt nhất Trường An, người qua kẻ lại tấp nập.
Đại Trần phân chia theo phường thị, nơi ở là một nơi, vui chơi là một nơi, chợ búa lại là một nơi khác, không được lẫn lộn. Mỗi đêm đều có lệnh giới nghiêm đúng giờ, không ai được phép vi phạm.
Vì người dân Đại Trần rất chuộng trà nên ở Trường An có một phường chuyên dùng để uống trà, gọi là phường Phẩm Trà. Trà vốn là thứ dành cho văn nhân học sĩ và giới sĩ đại phu, nên thông thường giữa các quán trà sẽ có thêm các thi xã và thư trai. Sau khi thưởng trà, người ta có thể đi dạo xung quanh, xem sách, nghe ngâm thơ, và trong thư trai còn có người đàn hát tiêu khiển.
Thông thường những người đàn hát trong thư trai đều là nữ tử nhà lành, chỉ bán nghệ không bán thân. Trước đây Bạch Ngọc Ngưng cũng từng đàn hát ở những nơi như vậy, sau đó mới được Chu Uyên Đình đưa về Hầu phủ.
Hôm nay, Chu Trì Dã cưỡi ngựa thẳng tiến vào phường Phẩm Trà.
Lúc hắn khởi hành trời vẫn còn sáng sủa, nhưng khi ngựa vào đến phường thì trời bắt đầu lất phất mưa.
Chớm thu ở Trường An thường hay có mưa. Tiền nhân nói chẳng sai, một trận mưa thu là một trận lạnh. Chỉ trong thoáng chốc, những người đi đường đều đã tấp vào các quán trà trú mưa, người qua lại thưa dần, rồi cuối cùng gần như vắng bóng.
Chỉ còn tiếng mưa rơi trên nền đá xanh, tụ lại thành những vũng nước nhỏ.
Tiếng vó ngựa lộc cộc trên những phiến đá xanh, Chu Trì Dã cuối cùng cũng tìm thấy Cầm Âm Các.
Cơn mưa phùn lay động những chiếc đèn lồng treo dưới mái hiên, làn gió nhẹ thổi qua tay áo gấm. Hơi nước lành lạnh lẩn khuất quanh người, Chu Trì Dã chau mày, xoay người xuống ngựa.
Trước khi bước vào Cầm Âm Các, hắn vẫn còn chút do dự. Hắn không biết “con đường khác” mà Bạch Ngọc Ngưng nói rốt cuộc là con đường nào, nhưng hắn nghĩ lại, dù là đường nào đi chăng nữa thì chắc chắn cũng tốt hơn kiếp phế nhân hiện tại của hắn.
Hơn nữa, Bạch Ngọc Ngưng là người định sẵn sẽ bầu bạn với hắn cả đời, nàng sẽ không phản bội hắn. Con đường nàng chỉ cho hắn chắc chắn là con đường tốt nhất.
Chu Trì Dã mang theo tâm thế đó, bước chân vào Cầm Âm Các.
Cầm Âm Các chia làm hai tầng, tầng một là sảnh chung, chính giữa có một bục tròn, trên bục có nữ tử đang gảy đàn tranh, điệu nhạc du dương vang lên.
Trong Cầm Âm Các lúc này không một bóng người, rõ ràng là đã có người bao trọn từ trước. Không biết là ai mà làm việc lại dứt khoát, gọn gàng đến thế.
Trông thấy bóng dáng Chu Trì Dã, một tên tiểu nhị nhanh chóng bước tới nghênh đón, khom người hành lễ, cười tươi rói nói: “Chu Nhị công tử, mời lên tầng hai.”
Sắp tới lúc hạ màn, lòng Chu Trì Dã càng thêm trĩu nặng, lòng bàn tay rịn ra một lớp mồ hôi lạnh.
Hắn từng bước một bước lên bậc thang, đi lên tầng hai, rồi được tiểu nhị dẫn vào một gian trà thất.
Trà thất rất rộng, cửa vừa đẩy ra là có thể thấy ngay cách bày trí bên trong.
Gian phòng cực kỳ thoáng đãng, chính diện là một bàn trà, bên trái đặt bình phong, bên phải là bục tròn để múa hát. Bên cạnh bàn trà, đã có một vị công tử ngồi sẵn ở đó.
Cửa vừa mở, vị công tử kia mỉm cười quay đầu lại nhìn hắn, nói: “Nhị công tử, mời ngồi.”
Vừa nhìn thấy gương mặt vị công tử đó, Chu Trì Dã cảm thấy như có một tia sét giữa trời quang đánh thẳng vào đầu, khiến hắn choáng váng mặt mày.
Đây vậy mà lại là Nhị Hoàng tử.
Thân là thứ tử của Hầu phủ, từ nhỏ hắn đã biết rõ chiến tuyến của gia tộc mình.
Cữu cữu của hắn là Trấn Nam Vương thuộc phe Thái tử, mẫu thân hắn Tần Thiền Nguyệt cũng có quan hệ họ hàng xa với Thái tử. Từ bé hắn đã được dạy rằng họ là người của Thái tử.
Trong quá khứ, hắn từng vạch ra kế hoạch sẽ đến biên cương, tiếp quản trọng trách của Trấn Nam Vương, sau này trở thành Trấn Nam Vương đời tiếp theo, rồi tiếp tục phò tá Thái tử.
Gia đình hắn không có con đường nào khác, chỉ có Thái tử. Đây là lập trường đã định từ hai đời trước, thế nên người của phủ họ chưa bao giờ giao du với Nhị Hoàng tử. Dù có gặp gỡ cũng phải vô cùng cẩn trọng, không dám lại gần nửa bước, chỉ sợ bị ai đó bắt thóp.
Vậy mà giờ đây, vị Nhị Hoàng tử “tuyệt đối không được lại gần” kia lại đang ngồi sau bàn trà, chờ hắn bước tới.
Trong đầu Chu Trì Dã thoáng chốc hiện ra biết bao nhiêu chuyện, từ mẫu thân, Bạch Ngọc Ngưng, cho tới Nhị Hoàng tử và Vạn Quý phi. Giữa mớ quyền lực đan xen ấy, hắn nghe thấy tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực.
Chu Trì Dã cũng chẳng biết mình bước vào bằng cách nào, đến khi định thần lại thì đã thấy mình đang quỳ ngồi đối diện Nhị Hoàng tử bên bàn trà.
Nhị Hoàng tử mỉm cười rót cho Chu Trì Dã một chén trà.
Trà nóng rót vào chén phát ra tiếng róc rách, làn khói nghi ngút bốc lên. Giữa tiếng đàn của mỹ nhân dưới lầu, họ ngồi đối diện nhau qua bàn trà.
Gương mặt Chu Trì Dã có chút cứng đờ, khóe môi mím lại vẻ không tự nhiên. Trên gương mặt có vài phần giống Tần Thiền Nguyệt của hắn hiện lên sự do dự.
Hắn bắt đầu cảm thấy hơi hối hận.
Sự bài xích đối với Nhị Hoàng tử tràn ngập trong lồng ngực hắn. Những lời răn dạy từng nghe, những cuốn sách từng đọc cứ ong ong bên tai, khiến đôi tay hắn run rẩy một cách kín đáo.
Hắn và Nhị Hoàng tử vốn dĩ ở hai phe đối địch, không có bất kỳ khả năng hòa giải nào. Nhị Hoàng tử tìm đến hắn… chắc chắn chẳng phải chuyện tốt đẹp gì. Hắn không thể có bất kỳ liên hệ nào với Nhị Hoàng tử được.
Đúng lúc này, Nhị Hoàng tử ngồi đối diện cuối cùng cũng lên tiếng.
“Bản cung dạo gần đây đang gặp phải một chuyện nan giải.”
Trên gương mặt ôn nhu như ngọc của Nhị Hoàng tử hiện lên sự bất lực và mệt mỏi, phảng phất chút bàng hoàng: “Nếu lần này bản cung bại trận, thứ chờ đợi bản cung e là cả đời bị giam cầm, khó lòng ngóc đầu lên nổi.”
Tiếng đàn dưới lầu xuyên qua cửa sổ vọng tới, hòa cùng âm thanh chán chường của Nhị Hoàng tử, khiến Chu Trì Dã có vài giây thẫn thờ.
Cả đời bị giam cầm, khó lòng ngóc đầu lên nổi, xét ở một góc độ nào đó, chẳng phải hắn cũng đang như vậy sao?
Trong cái Hầu phủ này, chẳng lẽ hắn không phải là một kẻ tù tội không thấy ánh sáng sao?
Dù Nhị Hoàng tử là hoàng thân quốc thích, địa vị khác xa hắn, nhưng vào khoảnh khắc này, họ đều bị vây khốn trong cùng một nghịch cảnh.
Giữa lúc hắn đang thẫn thờ, Nhị Hoàng tử bỗng nhiên ngước mắt nhìn hắn, gằn từng chữ: “Chỉ có Chu Nhị công tử mới giúp được bản cung. Bản cung hứa với ngươi, chỉ cần ngươi giúp bản cung xoay chuyển tình thế, sau này bản cung chắc chắn sẽ một tay nâng đỡ ngươi. Đến lúc đó, toàn bộ Hầu phủ Trung Nghĩa này đều sẽ là của ngươi!”
Trái tim Chu Trì Dã như bị một ngọn lửa hoang thiêu đốt, bùng cháy mãnh liệt, khiến gương mặt hắn đỏ bừng lên vì kích động.
Cả phủ Trung Nghĩa Hầu… đều là của hắn?
Trong đầu hắn lướt qua hình ảnh mẫu thân lạnh nhạt, đại ca ức hiếp mình, và tẩu tẩu luôn nói lời cay nghiệt. Cuối cùng, hình ảnh dừng lại ở gương mặt đẫm lệ của Bạch Ngọc Ngưng.
Lồng ngực hắn phập phồng dữ dội.
Đứng bên cạnh, Nhị Hoàng tử đã nhận ra dục vọng trong lòng hắn.
Gương mặt Nhị Hoàng tử hiện lên nét đắc ý nhàn nhạt.
Người trên đời này ai cũng có thứ mà mình khao khát. Có kẻ muốn tiền bạc, kẻ muốn quyền lực, có kẻ lại muốn tất cả. Chỉ cần tìm đúng điểm yếu để đánh phá, là có thể kéo đối phương về phe mình.
Chu Trì Dã là một quân cờ tuyệt hảo.
Xuất thân tốt, là người của phe Thái tử chính tông, lại là con cháu trọng thần, hơn nữa còn bị Bạch Ngọc Ngưng mê hoặc đến thần hồn điên đảo…
Chỉ vài khoảnh khắc suy tính, Nhị Hoàng tử lại chậm rãi nói: “Ta biết Nhị công tử luôn nặng lòng với Hầu phủ, nhất thời khó lòng quyết định. Nhưng ngươi hãy nghĩ lại xem, người trong Hầu phủ đối xử với ngươi thế nào? Họ chưa bao giờ mủi lòng với ngươi, vậy hà cớ gì ngươi phải nương tay với họ? Cổ nhân có câu ‘vô độc bất trượng phu’, thế gian này kẻ thắng làm vua kẻ thua làm giặc, cần gì phải vì ánh mắt kẻ khác mà chùn bước?”
Những lời này của Nhị Hoàng tử như tiếng thì thầm của ác quỷ lọt vào tai, khuấy động tâm can Chu Trì Dã.
Phải rồi, người trong Hầu phủ này chưa bao giờ nương tay với hắn dù chỉ một chút.
Mẫu thân chưa từng quan tâm đến hắn, mặc kệ cánh tay hắn tàn phế không cách nào cứu vãn. Đại ca cưỡng đoạt người trong lòng của hắn, sau đó còn trăm phương ngàn kế vu oan giá họa, khiến nàng phải lưu lạc nơi phố phường, chịu đủ mọi uất ức. Phụ thân, ngay cả người phụ thân đã mất kia cũng cưỡng ép đưa hắn từ bên ngoài về, giam lỏng hắn chẳng khác nào một con chó! Chưa kể đến vị tẩu tẩu kia, lại còn dám mắng nhiếc Bạch Ngọc Ngưng ngay trước mặt mọi người, khiến nàng phải chịu phạt.
Từng chuyện, từng chuyện một như những cọng rơm nặng trịch đè nặng lên vai hắn, dìm hắn xuống vũng bùn sâu không thể thoát ra, khiến hắn trở nên thảm hại như ngày hôm nay.
Họ đối xử với hắn như thế, vậy tại sao hắn phải nương tay với họ?
Lúc này, Nhị Hoàng tử chân thành nói: “Sau này, nếu bản cung có thể bước lên ngai vàng Thái Cực, chắc chắn sẽ không bạc đãi Nhị công tử.”
Tim Chu Trì Dã đập liên hồi vào lồng ngực, hắn nghe thấy giọng mình khản đặc hỏi: “Ta… ta có thể làm được gì?”
Nhị Hoàng tử mỉm cười mãn nguyện.
“Rất đơn giản…”
Tiếng thì thầm của ác quỷ chậm rãi vang lên trong trà thất. Tiếng đàn bên ngoài không biết đã dừng từ lúc nào, thiên địa như chỉ còn lại hai người họ. Ở một nơi không ai hay biết, cái ác đang mọc ra những dây leo, che trời lấp đất, quấn chặt lấy người Chu Trì Dã.
Và Chu Trì Dã hoàn toàn cam tâm tình nguyện.
Hắn sẵn lòng bắt tay với ngoại nhân để hãm hại chính gia tộc mình.
Trong vài trường hợp, người nhà hận người nhà còn tàn độc hơn cả người ngoài. Những nỗi hận thù xen lẫn oán hận và ghen ghét ấy còn đáng sợ hơn bất cứ thứ gì. Người ngoài đấu đá chỉ vì lợi ích, hễ thấy không còn lợi là họ sẵn sàng rút lui. Nhưng người nhà thì khác.
Họ thực sự mong muốn người thân của mình phải c.h.ế.t.
Những thành viên trong cùng một gia đình, sống dưới cùng một mái hiên, trông thì có vẻ hòa thuận vui vẻ, nhưng sâu bên trong là tầng tầng lớp lớp những oán hận và nước mắt.
Trong lúc bí mật mưu tính, Nhị Hoàng tử không nén nổi vẻ đắc ý.
Hắn cao ngạo ngẩng đầu nhìn Chu Trì Dã, thầm nghĩ, hoàng huynh à hoàng huynh, huynh mưu tính sâu xa như vậy, liệu có ngờ tới quân cờ Chu Trì Dã này không?
Hoàng huynh tốt của ta, giờ này đang làm gì nhỉ?
Nhị Hoàng tử không hề biết rằng, hoàng huynh tốt của hắn lúc này đang ở Đại Biệt Sơn, trong lòng đang vương vấn bóng hình của một thần phụ.
***
Lúc này, tại Đại Biệt Sơn.
Mặt trời bị mây mù che phủ, không khí trong núi bỗng trở nên lạnh lẽo hơn. Mọi người vừa xuống khỏi đường mòn, tới bãi đất trống để dựng lều. Đám tiểu sai, nha hoàn còn chưa kịp bày biện xong trận thế, các công tử, tiểu thư cũng chưa kịp vào rừng thì một trận mưa thu bỗng ập đến.
Trận mưa thu này đến quá bất ngờ khiến mọi người không kịp trở tay. Lều bạt trên bãi đất phải mất nửa canh giờ nữa mới dựng xong, lại thêm mưa xuống đột ngột, đám nha hoàn và tiểu sai phải lập tức căng vải dầu che chắn để lều không bị ướt. Công việc của họ vì thế mà kéo dài ra, e là nếu mưa không tạnh thì cũng chẳng thể vây săn được.
Mọi người chẳng còn cách nào khác, đành phải theo chân những tư binh giàu kinh nghiệm đi lánh mưa trong những hang động gần đó.
Nếu không, giữa chốn núi rừng này mà bị ngấm nước mưa lạnh, chắc chắn sẽ bị sốt mấy ngày. Trận cảm lạnh này mà nặng có khi còn nguy hiểm đến tính mạng. Ở trang viên trên núi lại không có sẵn thuốc tốt, nếu để lại mầm bệnh trong người thì thật không đáng chút nào.
Gần đó có rất nhiều hang động, có cái là hang tự nhiên thông nhau, có cái là do con người đào ra từ trước. Tổng cộng có hơn mười hang nên mọi người đều có chỗ trú chân.
Nghe nói trước kia dân sơn cước ở đây thường sống trực tiếp trong hang động, sống bằng nghề săn bắn. Sau này có ruộng vườn cày cấy, hang động mới dần bị bỏ hoang. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có thợ săn vào rừng tá túc lại, nên bên trong cũng không đến nỗi quá hoang vu, thậm chí còn tích trữ sẵn một ít đuốc, có thể đốt lên để soi sáng hoặc sưởi ấm.
Trong hang động, chỉ có phu nhân, công tử và tiểu thư mới được vào nghỉ ngơi, tất cả tư binh đều đứng canh gác bên ngoài. Nhưng vì hang có cái to cái nhỏ, người này vào rồi thì người kia phải sang hang khác, lại có những hang thông nhau nên khó tránh khỏi cảnh nam nữ cùng chung một hang.
Trong hoàn cảnh gian khổ này, cũng chẳng ai còn câu nệ chuyện “vô lễ” hay không. Dù sao cũng là dưới sự chứng kiến của bao nhiêu người, chẳng sợ xảy ra chuyện gì làm tổn hại đến danh tiết.
Vốn dĩ Liễu Yên Đại định cùng mẹ chồng vào chung một hang, nhưng ngay lúc đó, Lưu Xuân Vũ đã kéo nàng sang một hang động khác.
“Gần đây muội đang được xem xét hôn sự.” Lúc vào hang, Lưu Xuân Vũ hạ giọng xuống thật thấp, mang theo chút thẹn thùng nói: “Nương cho phép muội tự mình đi xem thử.”
Liễu Yên Đại lập tức hiểu ra, Lưu Xuân Vũ muốn đi xem mặt ý trung nhân của mình. Nếu muốn hỏi xem hắn có thích mình không, có thể “vô tình” đánh rơi chiếc khăn tay rồi đợi hắn nhặt trả lại.
Tóm lại là phải chủ động tới xem một chút, nhưng đi một mình thì khó tránh khỏi lo lắng, có thêm người đi cùng vẫn tốt hơn.
Liễu Yên Đại địa vị cao, lại là người đã có gia đình, đi cùng nàng là an toàn nhất, không lo bị người đời đàm tiếu, càng không lo có ai nhìn trúng Liễu Yên Đại mà ngó lơ mình.
Đừng thấy đám tiểu thư này ngày thường e lệ, nhưng đến lúc chọn ý trung nhân, ai nấy đều phải chủ động và táo bạo một chút, nếu không sao giành được nhân duyên tốt?
Nữ tử Đại Trần nếu hòa ly sẽ bị khinh thường rẻ rúng, vì vậy gả chồng nhất định phải chọn nhà tốt, nếu không mấy chục năm sau này đều phải chịu uất ức.
Liễu Yên Đại đã từng nếm trải chuyện “tranh sủng” nơi hậu đình nên vô cùng thấm thía điều này. Không phải nhà ai cũng có được một người mẹ chồng tốt và một phu quân tốt, vì thế nàng không hề từ chối mà sảng khoái nhận lời, cùng Lưu Xuân Vũ vào một hang động.
Hang này khá rộng rãi, cao tầm một trượng, dài rộng khoảng hai trượng. Bên trong đã có bốn vị công tử và ba vị tiểu thư đang đứng ngồi. Thấy Liễu Yên Đại và Lưu Xuân Vũ bước vào, mọi người đều đồng loạt ngoảnh lại nhìn.
Liễu Yên Đại vốn dĩ nhút nhát, hễ gặp cảnh bao nhiêu ánh mắt đổ dồn vào mình là nàng lại muốn lẩn tránh, nhưng Lưu Xuân Vũ còn nhát hơn cả nàng, trốn còn nhanh hơn nàng.
Hai người là kẻ đến sau, chẳng lẽ lại chẳng ai lên tiếng? Liễu Yên Đại nghĩ bụng, mình đã gả chồng rồi, chắc chắn phải biết đối nhân xử thế hơn Lưu Xuân Vũ mới phải, nên nàng đành bấm bụng bước tới chào hỏi đám công tử và tiểu thư kia.
Những tiểu thư và công tử khác cũng vội vàng hành lễ đáp lại.
Trong lúc trò chuyện, mấy vị công tử đã nhóm lửa lên, hang động ấm áp hơn hẳn. Mấy nha hoàn lanh lợi cũng mang đệm mềm tới cho các tiểu thư ngồi.
Sau khi mọi người ngồi xuống, câu chuyện cũng dần cởi mở hơn. Nhìn cơn mưa bao phủ núi rừng bên ngoài, cùng nhau đàm đạo thi từ ca phú, mọi người cũng dần trở nên thân thiết.
Liễu Yên Đại cũng biết được Lưu Xuân Vũ thầm thương trộm nhớ vị công tử nào, đó là một thứ tử của Hộ bộ Hữu Thị lang, năm nay mười bảy tuổi, đang độ tuổi thành thân, họ Lâm.
Liễu Yên Đại không nhịn được mà liếc nhìn Lâm công tử thêm vài cái.
Lâm công tử tướng mạo khôi ngô, tuấn tú hiên ngang, nhìn lại Lưu Xuân Vũ cũng là tiểu gia bích ngọc, hai người trông cũng rất xứng đôi.
Liễu Yên Đại đang quan sát thì bỗng thấy xung quanh im bặt. Lưu Xuân Vũ bên cạnh vội vàng đứng bật dậy, còn kéo nàng một cái. Nàng cũng vội vàng đứng lên theo, vừa ngoảnh đầu lại đã thấy một bóng người cao lớn bước vào cửa hang.
Họ đang ở trong hang tối, người kia từ ngoài sáng bước vào, chỉ thấy một dáng hình cao lớn lồng lộng.
Hắn mặc một bộ huyền bào thêu hoa văn kim long tường vân, mỗi bước đi, long vân bằng chỉ vàng lại lấp lánh lay động.
Ánh sáng bên ngoài làm mờ đi đường nét khuôn mặt hắn, khiến người ta không nhìn rõ diện mạo, nhưng nhìn bộ y phục này, ai nấy đều biết là ai tới.
Chỉ có Thái tử mới được mặc bộ y phục này.
Họ đều biết Thái tử cũng có mặt trong núi, nhưng không ai biết chính xác là ở đâu, càng không ngờ Thái tử lại vào chung một hang với họ để lánh mưa.
Mọi người trong hang tâm tư khác nhau, đều vội vàng quỳ xuống hành lễ. Thái tử không nhìn họ nhiều, chỉ khẽ gật đầu rồi đi vào trong hang, tìm một phiến đá ngồi xuống, thản nhiên nói: “Ngồi đi.”
Những người còn lại không dám lên tiếng, lí nhí tạ ơn rồi mới dám ngồi xuống.
Thái tử ngồi ở vị trí trung tâm, không có động tác gì thêm, trông như thể chỉ vào đây nghỉ chân một lát. Thái tử không lên tiếng, trong hang nhất thời chẳng ai dám nói gì, chỉ còn tiếng củi lửa cháy lách tách.
Sự im lặng này khiến người ta cảm thấy đứng ngồi không yên, nhưng Thái tử dường như đã quá quen với sự tĩnh lặng này, cũng quen với việc đám người trước mặt mình run rẩy không nói nên lời.
Mọi người ngồi xuống chưa được bao lâu thì bên ngoài có nha hoàn mang trà nóng tới, nói là tiểu thư ở hang bên cạnh tình cờ có mang theo trà cụ nên đã pha vài chén trà nóng, chén đầu tiên được mang tới hang này.
Hành động này không tránh khỏi có chút xu nịnh, nhưng xu nịnh cũng là lẽ thường, ai bảo người ngồi đây lại là Thái tử kia chứ?
Đừng nói là trà nóng, ngay cả khi Thái tử muốn ăn “Trân châu phỉ thúy bạch ngọc canh” lúc này, cũng phải lập tức nhóm lửa bắc nồi mà nấu cho ngài.
Sau khi trà được mang tới, chén trà đầu tiên phải dâng cho Thái tử.
Thái tử cầm chén thì những người khác mới được phép cầm.
Thái tử vốn định không dùng, nhưng khóe mắt chợt thoáng thấy Liễu Yên Đại.
Liễu Yên Đại là người duy nhất trong hang từ đầu đến cuối không hề nhìn Thái tử. Sự chú ý của nàng hoàn toàn không đặt lên người hắn, mà là đặt vào chén trà kia.
Liễu Yên Đại đi vào rừng từ sớm nên đã khát khô cả cổ, nước trong túi da lại lạnh ngắt, chẳng ngon chút nào, thế nên nàng cứ mở to mắt nhìn chằm chằm chén trà. Một lúc sau, thấy Thái tử cầm lấy một chén, nàng mới vội vàng cầm một chén khác lên uống.
Nàng uống trà rất tinh tế, đôi môi hồng nhuận khẽ nhấp, đầu lưỡi nhỏ xinh xắn liếm nhẹ vành chén, rồi mới hớp vài ngụm trà nóng.
Trà tuy nóng nhưng vào miệng lại vừa vặn, một dòng ấm áp men theo cổ họng chảy xuống, làn hương dịu nhẹ đọng lại giữa kẽ răng.
Liễu Yên Đại thoải mái híp mắt lại.
Nàng ngồi trên một phiến đá, hai tay bưng chén trà chậm rãi thưởng thức, cảm thấy Thái tử đến đây cũng tốt, ít ra người ta vì muốn cung kính Thái tử mà dâng trà đến hang này đầu tiên.
Sau khi vài chén trà xuống bụng, có người đã lấy hết can đảm bắt chuyện với Thái tử. Thái tử thản nhiên đáp lời, trông vẻ mặt cũng không có gì là bài xích.
Những người khác càng thêm phấn chấn, thi nhau lên tiếng.
Thái tử vẫn ngồi nguyên tại chỗ, ánh mắt dán chặt vào chén trà trong tay nhưng lại không uống, trông như đang ngắm chén trà, nhưng thực chất dư quang vẫn luôn đặt trên người Liễu Yên Đại.
Nàng cứ từng hớp, từng hớp trà mà uống, hoàn toàn không hay biết gì.
Dù không nhìn chính diện, Thái tử vẫn thu trọn hình ảnh nàng vào mắt.
Dạo này nàng dường như lại đầy đặn hơn một chút, khuôn mặt tròn trịa, môi đỏ răng trắng, còn vòng eo kia… sao lại thắt đai lưng da chặt như thế…
Thái tử khẽ cau mày.
Đã mang thai rồi, sao còn đeo loại đai lưng đó? Hay đúng hơn là… có thai thì nên ngoan ngoãn ở trong phủ, sao còn chạy ra ngoài chơi thế này?
Dòng suy nghĩ chỉ mới hỗn loạn trong giây lát đã bị Thái tử lạnh lùng dập tắt.
Một người nữ nhân đã có thai, cô không thèm để mắt tới.
Cảm giác bực bội lan tỏa trong lồng ngực, Thái tử ngẩng đầu, uống cạn chén trà trong tay.
Hôm nay cô đến đây cũng chỉ để vây săn mà thôi, chẳng liên quan gì đến người nữ nhân này cả.
“Mưa tạnh rồi.” Thái tử lạnh lùng cắt ngang lời họ, sau đó đứng dậy bước thẳng ra ngoài.
Những người khác ngước nhìn ra ngoài hang, vội vàng đi theo sau Thái tử.
Thái tử ra ngoài, họ cũng phải theo ra.
Trận mưa ngoài hang quả thực đã tạnh. Ánh nắng ban chiều lại ló ra khỏi đám mây, những vệt nắng vàng nhạt chiếu xuống, núi rừng tràn ngập hơi ẩm tươi mới sau cơn mưa. Gió nhẹ thổi qua mặt vô cùng dễ chịu.
Nước mưa lúc nãy đã tan biến, dường như tan vào đất trời, chỉ trong loáng mắt đã chẳng thấy đâu, chỉ có gấu áo vẫn còn hơi ẩm là minh chứng cho trận mưa vừa rồi.
Sau khi ra khỏi hang, Thái tử không hề quay đầu lại mà cưỡi ngựa đi thẳng. Mấy vị công tử vội vàng đuổi theo, trong đó có cả Lâm công tử mà Lưu Xuân Vũ thầm thích.
Không ai là không muốn kết giao với Thái tử, cơ hội nghìn năm có một, không thể bỏ lỡ!
Lâm công tử đuổi theo, Lưu Xuân Vũ bên cạnh cũng vội vàng bám sát.
“Lâm công tử…” Nàng lấy hết can đảm, nói nhỏ với Liễu Yên Đại: “Lát nữa muội sẽ thử đánh rơi khăn tay.”
Liễu Yên Đại gật đầu ngay tắp lự: “Đánh rơi đi! Ta đi cùng muội.”
Hai cô nương lập tức đuổi theo sau.
Họ đi rồi, những tiểu thư khác cũng đánh bạo đi theo. Trong phút chốc, đoàn người trở nên đông đúc rầm rộ, giống như một đám đông đang cùng Thái tử đi săn vậy.
Thái tử cưỡi ngựa, những người khác cũng nhảy lên ngựa, băng qua những cánh rừng gần đó.
Không đi quá sâu vào rừng, trên cây lại có đánh dấu nên họ không sợ bị lạc, cứ thế vừa làm bạn vừa đuổi theo phía sau.
Thái tử lúc này cứ nhìn thấy Liễu Yên Đại là lại thấy phiền lòng, chính hắn cũng chẳng giải thích được cái sự phiền đó là thế nào, tóm lại là thấy bực bội, nên mới cố tình bỏ rơi họ, thúc ngựa chạy thật nhanh.
Thái tử chạy quá nhanh, Lâm công tử chẳng mấy chốc đã không theo kịp. Lâm công tử tụt lại, Lưu Xuân Vũ cũng dừng lại theo, Liễu Yên Đại vì thế cũng đứng sang một bên.
Lúc ba người họ đứng lại, Lưu Xuân Vũ đang hàn huyên với Lâm công tử thì Liễu Yên Đại trông thấy Ngô cô nương kia phóng ngựa lướt qua như một cơn gió, “vù” một cái đã lao thẳng vào rừng sâu.
Trong tiếng vó ngựa dồn dập, Liễu Yên Đại nghe thấy Lưu Xuân Vũ nói nhỏ: “Chính nàng ta vừa rồi đã dâng trà đấy.”
Bình luận truyện
Đang update