Đại Minh Nữ Trinh Thám

Chương 21: Ba lần đến thảo am mời cao nhân, vì tự bảo vệ lập ước pháp tam chương.

Chương trước Chương tiếp

Thảm án diệt môn, rồi hai đời chồng đều c.h.ế.t thảm như vậy, tại sao vận rủi cứ đeo bám nàng mãi không thôi?

Ngụy Thôi Thành hốt hoảng nói: “Xin lỗi, ta đã chạm vào nỗi đau của nàng.”

“Không sao đâu.” Lục Thiện Nhu nói.

“Có kẻ sau lưng nói ta mệnh cứng, khắc phu khắc người thân. Có kẻ lại than ngắn thở dài bảo ta mệnh khổ. Một loại coi thường, một loại thương hại, ta đều không thích. Huynh trực tiếp hỏi nguyên nhân là đã bỏ qua định kiến, coi ta là người bình đẳng, ta rất sẵn lòng nói cho huynh biết.”

Nàng thản nhiên như vậy, rõ ràng là đã xem ta như người thân rồi. Ngụy Thôi Thành sống độc hành mười năm ở Huấn Tượng Sở, vốn chẳng màng nhân tình thế thái, đây là lần đầu tiên chàng gặp được một người khiến mình có hứng thú, mà người ta cũng bằng lòng tiếp nhận chàng.

Ngụy Thôi Thành bỗng nhận ra, có lẽ chàng không hề thích cô độc, chỉ là chưa gặp được người tâm đầu ý hợp. Ở cạnh nàng, thật sự rất dễ chịu.

Thấy Ngụy Thôi Thành trầm ngâm nhưng không rời đi, nàng hỏi: “Huynh còn muốn hỏi gì nữa không?”

Ngụy Thôi Thành đáp: “Không còn nữa. Ta… ta đi đây.”

“Khoan đã.” Lục Thiện Nhu cười: “Ta có một câu hỏi, tại sao Mưu đại nhân lại là nghĩa phụ của huynh?”

Thực ra Lục Thiện Nhu biết rõ câu trả lời, nàng chỉ cố tình hỏi, muốn tạo dựng mối quan hệ thân thiết thì sự thẳng thắn lẫn nhau là yếu tố then chốt. Quá trình này không thể bỏ qua, giống như làm đậu phụ phải thêm nước muối nhạt, phải điểm chút nước muối vào sữa đậu nành mới có thể đông đặc thành hình.

Quả nhiên, Ngụy Thôi Thành không giấu giếm: “Năm xưa khi Hoàng thượng còn là hoàng tử, phụ mẫu ta và Mưu đại nhân đã đi theo bảo vệ ngài ấy. Phụ thân ta họ Ngụy, mẫu thân họ Thôi, họ quen nhau ở Tử Cấm Thành nên đặt tên ta là Ngụy Thôi Thành.”

“Sau này phụ thân tử trận, mẫu thân bệnh mất, giao phó ta cho Mưu đại nhân. Ông ấy đã bày tiệc rượu, nhận ta làm nghĩa tử, nuôi dưỡng dưới gối từ nhỏ…”

Hoàng đế Hoằng Trị lúc nhỏ sống rất gian truân. Khi đó Vạn quý phi độc sủng hậu cung, vì bà ta, Tiên đế đã phế bỏ một vị Hoàng hậu. Nghe nói Vạn quý phi là một cao thủ phá thai, trong cung không có vị Hoàng tử nào sống sót nổi.

Mẹ đẻ của Hoàng đế Hoằng Trị là một tiểu cung nữ trông coi nội khố tên Kỷ thị. Kỷ thị sinh ra Hoàng tử mà không dám công khai, đành nuôi giấu con trong An Lạc đường ở hoàng cung. An Lạc đường là nơi cung nữ thái giám chữa bệnh dưỡng thương. Bản tính con người sinh ra vốn đã có lòng chở che thương xót đối với sinh mệnh nhỏ nhoi yếu ớt, dưới sự chung sức đồng lòng của những người làm trong cung, Hoàng đế Hoằng Trị đã sống sót.

Vừa muốn ái phi, vừa muốn hoàng tự, Tiên đế nhắm mắt làm ngơ coi như không biết, nhưng bí mật phái người đến An Lạc đường bảo vệ Hoàng đế Hoằng Trị. Phụ mẫu Ngụy Thôi Thành cùng với Mưu Bân đều nằm trong số đó.

Về sau, Vạn quý phi đã hơn bốn mươi sắp năm mươi tuổi, không thể sinh đẻ được nữa. Vì nền tảng quốc gia, vì tính mạng hoàng trữ, Tiên đế đã công khai sự tồn tại của Hoàng đế Hoằng Trị. Vì chuyện này, mẹ đẻ Kỷ thị đã phải trả giá bằng mạng sống, bị “bạo bệnh mà qua đời”.

Sau khi Hoàng đế Hoằng Trị lên ngôi, Mưu Bân và cha mẹ Ngụy Thôi Thành đều thuộc nhóm những người lập được công lao tòng long phò tá. Mưu Bân trở thành Chỉ huy sứ Cẩm y vệ, tâm phúc của Hoàng đế. Còn phụ mẫu Ngụy Thôi Thành thì đi trấn thủ bảo vệ biên cương.

Quen biết từ lúc hàn vi, từng vào sinh ra tử cùng nhau, Mưu Bân lại là một Chỉ huy sứ nổi tiếng nhân từ, đứng trước lời trăng trối gửi gắm con côi của chiến hữu năm xưa, ông đã coi Ngụy Thôi Thành như con đẻ mà nuôi nấng.

Không, con ruột thi thoảng còn bị đánh mắng, chứ đối với Ngụy Thôi Thành, đến một sợi tóc của chàng ông cũng chẳng nỡ làm tổn thương.

Nhờ sự che chở đó mà Ngụy Thôi Thành mới có thể sống tùy ý theo ý mình, đây chính là lý do Lục Thiện Nhu chọn chàng.

Vốn chẳng có gì gọi là duyên phận, tất cả đều là sự tính toán của nàng.

Nghe ngóng được Ngụy Thôi Thành thích đọc tiểu thuyết thoại bản phá án, Lục Thiện Nhu bèn đánh vào sở thích đó, bắt đầu viết “Lục Công Án”, không ngờ lại nổi tiếng vang dội, lưu truyền khắp phố phường, viết một lèo ba quyển tổng cộng mười tập.

Ngay cả Lục Thiện Nhu cũng không ngờ, mồi nhử ban đầu dùng để “câu dẫn” Ngụy Thôi Thành lại vô tình trở thành sở thích của nàng, một sở thích thực sự.

Tiểu thuyết thoại bản mang lại thú tiêu khiển cho người khác, nhưng trong quá trình viết cũng xoa dịu nội tâm Lục Thiện Nhu, tạo ra một lối thoát cho những bi thương và phẫn nộ, đúng là vô tâm cắm liễu liễu lại xanh.

Vì thế, Lục Thiện Nhu cảm thấy Ngụy Thôi Thành không chỉ là con mồi, mà còn là quý nhân của mình, nhất định phải có được!

Dục vọng chinh phục sẽ làm tăng thêm mị lực của người phụ nữ. Ngụy Thôi Thành xách đèn lồng xuống núi, trong mắt là đường (Lộ), trong đầu cũng là Lộ/Lục, chữ Lục trong Lục Thiện Nhu. Khi vương vấn một người, người ta sẽ bất giác để ý đến âm đồng âm với tên của người đó.

Ngay trong đêm, chàng báo lại phát hiện của Lục Thiện Nhu cho cha nuôi Mưu Bân. Cầm tờ lịch ngày tết Trung Nguyên bị xé xuống, Mưu Bân lập tức sai thuộc hạ đi đến các phô phòng trong ngoài kinh thành, điều tra cặn kẽ xem trong các con phố thuộc quyền quản lý của họ có gia đình nào đưa tang vào dịp tết Trung Nguyên mà đi ngang qua khu vực quanh Bắc Đỉnh hay không.

Kinh thành Bắc Kinh của Đại Minh được phân chia theo lý phường, tổng cộng có ba mươi sáu phường. Mỗi phường lại chia thành nhiều phô phòng, một phô phòng quản lý vài tuyến phố, đây là cơ quan quản lý trị an cơ sở thấp nhất và cũng là nhỏ nhất. Chẳng hạn, phường Trừng Thanh nơi Lục Thiện Nhu sinh sống có chín phô phòng.

Trong ngoài kinh thành có tổng cộng sáu trăm bảy mươi phô phòng (chú thích: các vị khán quan có thể hiểu như đồn công an phường thời hiện đại, chỉ là phạm vi quản lý của phô phòng nhỏ hơn, Bắc Kinh hiện đại có bốn trăm mười sáu đồn công an), muốn nhận được phản hồi từ tất cả các phô phòng thì ít nhất cũng phải đợi đến nửa đêm.

Ngụy Thôi Thành nói: “Nghĩa phụ, người đi ngủ trước đi, con ở đây đợi tin tức.”

Trải qua chuyện Thái tử xuất cung bỏ nhà ra đi và vụ án yêu ngôn Trịnh Vượng, Mưu Bân tiều tụy hẳn, chớp mắt già đi cả chục tuổi. Ngụy Thôi Thành ngoài mặt tỏ vẻ dửng dưng nhưng thực chất trong lòng lại rất xót xa cho nghĩa phụ.

Mưu Bân hừ lạnh: “Giờ mới biết gọi nghĩa phụ sao? Lúc ở Bắc Đỉnh, một tiếng Mưu đại nhân, hai tiếng Chỉ huy sứ đại nhân cơ mà.”

Ngụy Thôi Thành đáp: “Ngài muốn con gọi đại nhân tiếp cũng được mà. Mưu đại nhân.”

Mưu Bân túm lấy tai Ngụy Thôi Thành hét lớn: “Gọi! Nghĩa! Phụ!”

“Nghĩa phụ.” Ngụy Thôi Thành xoa xoa vành tai bị rống đến tê dại: “Điếc rồi điếc rồi, nhỏ tiếng chút.”

Đứa con này không uổng công nuôi, vẫn biết lo cho cha, vừa có tin tức liền đến chia sẻ nỗi lo với mình. Mưu Bân mãn nguyện nằm xuống, lăn qua lộn lại như chiếc bánh tráng, lên tiếng:

“Ta mời Lục Nghi nhân xuất sơn tra án, nàng ta không chịu. Con không mời, nàng ta lại chủ động chỉ điểm cho con. Rốt cuộc con và nàng ta có quan hệ gì? Không đơn giản như vậy đâu nhỉ.”

“Là quan hệ chủ nhà và khách trọ thôi.” Ngụy Thôi Thành đáp.

“Nghĩa phụ đừng nghĩ lung tung, trọng án chưa phá, người nghĩ đi đâu vậy?”

Mưu Bân bật cười: “Con đang dạy bảo ta đấy à? Ai là cha ai là con đây?”

“Ngủ đi, tóc bạc hết rồi kìa.” Ngụy Thôi Thành nói.

Chàng chợt nghĩ đến Lý Các lão bạc đầu sau một đêm, làm quan lớn cũng có nỗi khổ riêng, thà đi cho voi ăn còn hơn!

Mưu Bân bị nghĩa tử đánh thức, lúc này trời đã tờ mờ sáng, Ngụy Thôi Thành cầm một tờ giấy vừa mới thống kê xong”Theo mật báo từ sáu trăm bảy mươi phô phòng, các phố phường trong ngoài kinh thành, trong dịp tết Trung Nguyên có tổng cộng chín mươi bảy nhà lo liệu tang sự, bao gồm cả nhà Lý Các lão ở thành Tây, nhưng đưa tang vào đúng ngày này thì chỉ có một nhà, ở khu Tam Lý Đồn ngoài cửa Triều Dương thành Đông. Nghe nói người chết có bát tự đại hung, ngày chết cũng là ngày đại hung, thầy âm dương bảo lấy hung khắc hung, nên đã chọn ngày hung giờ hung để đưa tang hạ huyệt, nhưng họ lại chôn cất ngay tại vườn rau ở Tam Lý Đồn, cách Bắc Đỉnh rất xa.”

Trong phô phòng có một phô đầu và một số hỏa phu, tùy theo khu vực và dân số quản lý, ít nhất là ba hỏa phu, nhiều thì hơn chục người, thậm chí là đôi mươi người. Phô đầu và hỏa phu hàng ngày đi tuần tra trên địa bàn của mình, chỉ có vài con phố, loanh quanh đi lại quen thuộc vô cùng, những việc lớn như đưa tang không thể giấu giếm được họ, mật báo này hoàn toàn đáng tin cậy.

Mưu Bân nhìn tấm bản đồ trên tường, Tam Lý Đồn và Bắc Đỉnh là hai nơi hoàn toàn chẳng liên quan gì đến nhau: “Vậy nên, chắc hẳn là giả vờ đưa tang, thực chất là đi vứt x.á.c.”

Ngụy Thôi Thành gật đầu: “Nghĩa phụ nói đúng.”

“Bước tiếp theo thì sao?” Mưu Bân hỏi.

“Hả?” Ngụy Thôi Thành ngẩn người.

Mưu Bân vừa vớt nước rửa mặt rào rào vừa nói: “Con cảm thấy bước tiếp theo nên tra thế nào?”

Con chỉ là đứa cho voi ăn thôi mà nghĩa phụ! Ngụy Thôi Thành cố gắng lục lại trí nhớ về những cuốn tiểu thuyết công án mình từng đọc, ấp úng nói: “Đi thăm dò những cửa hiệu chuyên làm đồ tang lễ, kiểu như tiệm quan tài, tiệm vàng mã, tiệm hương đăng, còn cả những nhạc công biết thổi kèn xô na. Ôn ma ma đó nghe thấy tiếng nhạc bài ‘Đại Xuất Tẫn’ mới chuyển hướng. Con đoán những người qua đường khác cũng nghe thấy nhạc hiếu, đều không muốn chạm trán với đoàn đưa tang vào ngày tết Trung Nguyên vì sợ gặp tà ma, nên mới tránh xa khu rừng ven hồ.”

Xem ra thằng nhãi này không chỉ biết nuôi voi. Mưu Bân cũng nghĩ như vậy, bèn dặn dò thuộc hạ: “Cứ theo hướng hắn nói mà điều tra.”

Mưu Bân rửa mặt thay y phục, vẫy tay với Ngụy Thôi Thành: “Đi theo ta.”

“Đi đâu ạ?” Ngụy Thôi Thành cảnh giác, sợ lại là kế điệu hổ ly sơn, lừa mình đi chỗ khác.

“Tới Bắc Đỉnh chứ đâu nữa, để ta một mình đi gặp nàng ấy con có yên tâm không?”

Đương nhiên là không yên tâm! Ngụy Thôi Thành trèo lên xe. Tối qua chàng trực đêm, hoàn toàn chưa chợp mắt, xe vừa xóc một cái là ngủ thiếp đi ngay. Nhưng khi xe ngựa vừa dừng lại ở Bắc Đỉnh, chàng lập tức tỉnh giấc, sợ Mưu Bân bỏ rơi mình để đi tìm tiểu góa phụ.

Mưu Bân nhìn vẻ mặt lo lắng của nghĩa tử, thầm nghĩ hỏng rồi, e là thằng nhãi này dính bùa mê thuốc lú của nàng góa phụ kia rồi.

Các tiên cô ở Bắc Đỉnh đã bắt đầu làm thời khóa buổi sáng, Lục Thiện Nhu vẫn chưa ngủ dậy. Kể từ khi bắt đầu viết tiểu thuyết thoại bản, nàng đã hình thành thói quen ngủ muộn dậy muộn. Bất kể có viết sách hay không, nàng đều không dậy sớm.

Thậm chí đôi khi nàng còn thức đêm như một cách để trả đũa, lúc không viết sách còn ngủ muộn hơn, thức dậy muộn hơn cả lúc viết sách! Đây gần như là căn bệnh chung của những người cầm bút.

Gọi hay không gọi? Phượng tỷ lâm vào thế khó xử.

Mưu Bân vung tay dứt khoát: “Không cần quấy rầy Lục Nghi nhân, ta sẽ đợi ở đây.”

Thực ra Mưu Bân chẳng muốn đợi chút nào, nhưng lần thứ hai mời Lục Thiện Nhu xuất sơn thì phải thể hiện đủ thành ý.

Ngụy Thôi Thành vừa nghe vậy liền quay đầu trở lại, chui vào xe ngựa tiếp tục ngủ bù. Theo hiểu biết của chàng về Lục Thiện Nhu, nàng chắc chắn sẽ ngủ đến tận giữa trưa mới dậy!

Đứng đợi cũng vô ích, chi bằng đi ngủ thêm một giấc.

Mưu Bân đợi suốt nửa canh giờ, bên phía Lục Thiện Nhu vẫn chẳng có chút động tĩnh nào. Ông dần mất kiên nhẫn, mấy lần muốn sai người gọi nàng ra. Nhưng nếu làm vậy thì chút “thành ý” vừa nãy coi như đổ sông đổ biển.

Tiếp tục đợi thì ông lại đợi không nổi; vụ thảm án diệt môn nhà Thái giám Ngô, kẻ cầm đầu tin đồn Trịnh Vượng đến nay vẫn chưa có tăm hơi, vẫn đang trong trạng thái mất tích.

Tiến thoái lưỡng nan, chuyện này làm Mưu Bân rầu thối ruột.

Đúng lúc đang phiền muộn, một kỵ mã phi nước đại tới báo tin, trao cho ông một chiếu thư màu vàng tươi, Mưu Bân nhìn thoáng qua, Hoàng đế Hoằng Trị tuyên triệu ông lập tức tiến cung.

Trong lòng Mưu Bân không khỏi kêu khổ. Vụ án diệt môn của Ngô công công chưa phá được, tung tích Trịnh Vượng vẫn chưa tìm thấy. Hai đầu mối đều chưa có kết quả, ta biết ăn nói thế nào với Hoàng thượng đây?

Nhưng chẳng còn cách nào khác, Hoàng đế đã triệu, Mưu Bân không thể không đi.

Ông xoay người lên ngựa hỏa tốc, lúc này Ngụy Thôi Thành vẫn đang ngủ say sưa trên xe ngựa, thuộc hạ định đánh thức, Mưu Bân xua tay: “Không cần, cứ để nó ngủ.” Đứa nhỏ này tối qua đã phải thức hơn nửa đêm rồi.

Cứ như vậy, Lục Thiện Nhu ngủ trong thiền phòng, Ngụy Thôi Thành ngủ trên xe ngựa, hai người không hẹn mà cùng mơ một giấc mộng, trong mộng lại đều có bóng dáng đối phương, vô cùng ngọt ngào.

Chỉ có Mưu Bân tuổi đã cao mà vẫn phải đội nắng nóng gay gắt tất tả ngược xuôi.

***

Tại Đông cung, Tử Cấm Thành.

Thái tử Chu Hậu Chiếu, tức Đào Chu đã khôi phục nam trang, quỳ trước mặt hai nữ nhân.

Một người là Trương Hoàng hậu, người kia là mẫu thân của Trương Hoàng hậu – Xương Quốc Công thái phu nhân Kim thị, cũng chính là ngoại tổ mẫu của Đào Chu.

Sau khi Xương Quốc Công qua đời, Trương Hoàng hậu đón mẫu thân mình vào cung phụng dưỡng.

Vì chuyện này, Lý Các lão cùng một số đại thần từng nhiều lần phản đối, cho rằng không hợp lễ chế. Thế nhưng phản đối cũng chẳng có tác dụng gì, Kim thị vẫn luôn ở trong cung.

Đào Chu cúi đầu: “Mẫu hậu, ngoại tổ mẫu, đã khiến hai người phải lo lắng sợ hãi. Con biết lỗi rồi.”

“Đứng lên đi.” Trương Hoàng hậu kéo Thái tử ngồi xuống giữa mình và Kim thị, đưa tay vuốt ve khuôn mặt vẫn còn nét non nớt của nhi tử, đau lòng nói:

“Mặt vẫn còn sưng này. Sau này đừng nghịch ngợm nữa.”

Kim lão phu nhân cũng đưa tay vuốt ve má ngoại tôn, nói: “Điện hạ đừng nghe những lời đồn bên ngoài. Con là do chính ta tận mắt nhìn thấy sinh ra, sao có thể là con của đô nhân được? Nghe lời ta, đừng lại giận dỗi rồi bỏ trốn khỏi cung nữa.”

“Đô nhân” chính là cách gọi cung nữ trong hoàng cung thời Minh.

“Lời đồn gì?” Đào Chu giả vờ ngốc nghếch, “Con không phải giận dỗi, con chỉ là nghịch ngợm, muốn ra ngoài cung chơi một chút. Ban đầu định sớm quay về cung, nhưng không cẩn thận ngã ngựa, mặt bị sưng lên, sợ làm mẫu hậu và ngoại tổ mẫu sợ nên vẫn không dám về cung. Hôm qua là tiết Trung Nguyên, phải tế tự, nên con mới cắn răng quay về.”

Đào Chu là người cực kỳ thông minh, hắn chắc chắn không thể thừa nhận lý do thật sự khiến mình rời cung. Việc phủ nhận sinh mẫu của mình là Hoàng hậu Trương chính là tội đại bất hiếu.

Thái tử bất hiếu thì ngôi vị sẽ không giữ được. Đào Chu hiểu rõ, phế thái tử, hoặc một thái tử không thể kế thừa hoàng vị, kết cục sẽ rất thê thảm. Hắn không muốn chết, sống vẫn tốt hơn.

Trương hoàng hậu đặt hai tay lên vai Đào Chu, ôn tồn nói: “Sau này đừng nghịch nữa. Tám ngày qua, ta và ngoại tổ mẫu của con không biết đã rơi bao nhiêu nước mắt, ngay cả phụ hoàng của con cũng gầy đi nhiều. Con có biết lỗi không?”

Đào Chu ngoan ngoãn nói: “Con biết lỗi rồi. Đợi khi vết thương lành, con sẽ đến Thái miếu quỳ trước tổ tiên để sám hối.”

Kim lão phu nhân vội vàng can ngăn: “Hoàng hậu cũng đừng trách móc đứa trẻ nữa, nó mới mười ba tuổi thôi mà, cái tuổi nghịch ngợm nhất của đám nam hài, những nam hài khác ở tuổi này ở bên ngoài vẫn còn đang trèo tường lật ngói đấy, Thái tử như vậy đã là ngoan ngoãn giỏi giang lắm rồi.”

Trương Hoàng hậu nghiêm sắc mặt: “Mẫu thân, nó là Thái tử, mai sau phải kế thừa hoàng vị, gánh vác trọng trách giang sơn xã tắc, sao có thể đánh đồng với những đứa trẻ bình thường được?”

Kim lão phu nhân không nói gì nữa.

Đào Chu vội vàng đứng dậy, lại quỳ xuống dưới gối Trương Hoàng hậu: “Mẫu hậu nói đúng, nhi thần sai rồi.”

Kim lão phu nhân đưa tay muốn đỡ, Trương Hoàng hậu ấn tay mẫu thân xuống, nói với Đào Chu: “Không cần phải quỳ ở Thái miếu, kẻo quỳ hỏng cả người. Phạt con chép ‘Hiếu Kinh’ mười lần, có phục không?”

Đào Chu đáp: “Vâng, thưa mẫu hậu.”

Trương Hoàng hậu lại nói: “Đám người hầu hạ ở Đông Cung không tận tâm, ta đã chọn người khác, thay thế toàn bộ rồi. Những ngày này con cứ ở lại Đông Cung chép sách hối lỗi, đừng ra ngoài nữa, ta sẽ thường xuyên đến thăm con.”

Đào Chu đáp: “Vâng, mẫu hậu.”

Trương Hoàng hậu dắt tay mẫu thân rời đi, Đào Chu cúi người bái tiễn sau lưng họ, cất lời: “Cung tiễn mẫu hậu, ngoại tổ mẫu.”

Theo lý, Đào Chu là quân, Kim lão phu nhân là thần, lão phu nhân không thể nhận đại lễ “cung tiễn” của Thái tử, nhưng tất cả mọi người đều giữ vẻ mặt bình thản, dường như đã quen với việc này từ lâu.

Cho đến khi bóng dáng hai người khuất hẳn, Đào Chu mới đứng thẳng người lên, lấy một cuốn “Hiếu Kinh” ra chép.

Khi chép đến câu “Lấy đạo thờ cha mà thờ mẹ, thì lòng yêu mến cũng như nhau; lấy đạo thờ cha mà thờ vua, thì lòng tôn kính cũng như nhau. Cho nên đối với mẹ thì lấy lòng yêu mến, đối với vua thì lấy lòng tôn kính, mà gồm cả hai điều ấy là đối với cha”, nét bút hơi khựng lại một chút.

Suy nghĩ giây lát, Đào Chu tiếp tục viết. Một tiểu thái giám với khuôn mặt xa lạ bước vào bẩm báo: “Hoàng thượng triệu Thái tử điện hạ đến thư phòng.”

Đào Chu vẫn tiếp tục chép sách, nói: “Lúc nãy mẫu hậu vừa ban lệnh cấm túc.”

Tiểu thái giám thưa: “Nô tài đã thỉnh thị Hoàng hậu nương nương rồi, nương nương dặn nếu Hoàng thượng có chỉ triệu kiến thì là ngoại lệ.”

Lúc này Đào Chu mới đặt bút xuống, thay một bộ y phục khác, đi theo tiểu thái giám rời khỏi Đông Cung. Một cỗ long liễn mười tám người khiêng đang đỗ bên ngoài, đây là kiệu của Hoàng đế.

Tiểu thái giám nói: “Trời nóng nực, Hoàng thượng ban cho long liễn.”

Đào Chu bước lên long liễn, bên trong có đặt đá lạnh, vô cùng mát mẻ. Nhưng hắn chẳng có tâm trạng nào để hưởng thụ, chỉ cảm thấy kinh hãi bất an: Trước đây chưa bao giờ có đãi ngộ được ban long liễn, giờ phạm lỗi, phụ hoàng không những không trách phạt mà còn ban thưởng hậu hĩnh, rốt cuộc là vì sao?

***

Ngự thư phòng.

Hoàng đế Hoằng Trị nói: “…Cứ để Thái tử đóng giả làm tâm phúc của ái khanh, cho nó tự mình trải nghiệm vụ án này từ đầu đến cuối, thì mới tháo gỡ được khúc mắc trong lòng.”

Nghe sự sắp xếp của Hoàng đế, Mưu Bân lộ rõ vẻ khó xử: “Việc này… e là… không ổn.”

Dám ngang nhiên nghi ngờ quân vương ngay tại chỗ, e rằng chỉ có bề tôi của triều Hoằng Trị mới dám làm vậy.

Mưu Bân nổi danh là Chỉ huy sứ từ bi nhất trong lịch sử Cẩm Y Vệ, Hoàng đế Hoằng Trị cũng nổi danh là “nhân quân”. Tuổi thơ ông đầy rẫy sóng gió, lớn lên trong An Lạc đường – nơi chuyên chữa trị cho cung nữ thái giám. Vừa mới được Tiên đế công nhận thân phận Hoàng trưởng tử, mẫu thân Kỷ thị lập tức bị “bạo bệnh qua đời”, sau đó ông được nuôi nấng bên cạnh Vạn Quý phi.

Tuy có lời đồn đoán rằng Vạn Quý phi ghen tị nên đã hại chết Kỷ thị, nhưng sau khi lên ngôi, Hoàng đế Hoằng Trị không hề “thanh toán” bất cứ ai. Dù là người nhà của Vạn Quý phi hay đám quan lại a dua xu nịnh bà ta, ông đều bỏ qua chuyện cũ, nhất loạt đối đãi tử tế.

Thế nên ai ai cũng ca ngợi Hoàng đế Hoằng Trị tính tình khoan dung độ lượng, có lòng bao dung người khác, quả thực là minh quân, là nhân quân. Đại Minh cũng nhờ đó mà đạt được sự trung hưng trong tay Hoàng đế Hoằng Trị, những năm qua quốc thái dân an, chuỗi ngày ấm êm yên ả chiếm đa số.

Vua nào thì tôi nấy, Hoàng đế Hoằng Trị nhân hậu, Mưu Bân từ bi, chưa từng gây ra án oan, thế nên khi gặp chuyện ông cũng dám chất vấn quân vương ngay trước mặt.

Mưu Bân là người đã bảo vệ Hoàng đế Hoằng Trị từ thuở ông còn vất vưởng cầu sinh trong An Lạc đường, tình nghĩa quân thần phi phàm hơn người, Mưu Bân cự tuyệt, Hoàng đế Hoằng Trị cũng không hề tức giận, còn bình tĩnh giải thích với bề tôi:

“Trẫm biết việc này không ổn, nhưng giờ Thái tử đang ở độ tuổi nổi loạn, bản tính là vậy, trẫm biết làm sao được? Ra lệnh cấm túc, nó sẽ ngoan ngoãn ở lại trong cung sao? Ngay cả chiêu trò phẫn nữ trang nó còn dám làm, vứt bỏ cả thể diện, thì còn chuyện gì mà nó không dám làm nữa? Trẫm lo sợ thủ đoạn của nó ngày càng quá khích, nếu thực sự đến mức không thể vãn hồi, xảy ra chuyện gì, làm lung lay gốc rễ Đại Minh, thì phải làm sao?”

Trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, Gia Cát Lượng tặng quần áo nữ nhân cho Tư Mã Ý vốn được coi là một sự sỉ nhục, Tư Mã Ý mặc y phục nữ nhân, tự tìm niềm vui, được khen là giỏi nhẫn nhịn.

Vì thế, việc Thái tử thà giả nữ trang cũng phải trốn khỏi hoàng cung khiến Hoàng đế Hoằng Trị vừa phẫn nộ vừa sợ hãi, sợ rằng nhi tử sẽ dùng những cách thức còn vượt qua cả giới hạn đạo đức để bỏ trốn.

Vấn đề được đẩy sang phía Mưu Bân, ông thầm nghĩ: Làm sao bây giờ? Trẻ con nhà ta mà nghịch ngợm, cứ đánh vài trận, mắng vài câu, bỏ đói vài bữa, đập cho một trận là ngoan ngay, ngọc không mài không thành khí mà.

Nhưng, những lời này Mưu Bân có to gan đến mấy cũng không dám nói ra!

Mưu Bân có đến mấy đứa nhi tử, trong khi Thái tử chỉ có một, lại còn là người mai sau sẽ kế thừa hoàng vị.

Mưu Bân đành nói: “Hay là bảo nhóm Thái tử Thái phó như Lý Các lão cẩn thận dạy bảo Thái tử đạo làm vua.”

Xưa nay, hễ giáo dục xảy ra vấn đề, người đầu tiên bị lôi ra chịu trách nhiệm luôn là thầy giáo.

Hoàng đế Hoằng Trị dang hai tay ra: “Đại lang nhà họ Lý chết như thế nào, chính là do ái khanh bẩm báo cho trẫm biết. Lý Các lão vẫn còn đang lo liệu tang sự cho nhi tử, sức khỏe lại không tốt, cớ gì phải làm phiền ông ấy.”

Lý công tử chết trên giường nữ nhân, Lý Các lão nuôi dạy con ruột của mình thành ra như vậy…

Quả thực không thể nhờ Lý Các lão. Mưu Bân đá quả bóng trách nhiệm cho Lý Các lão thất bại, nhưng vẫn không chịu nới lỏng miệng: “Theo vi thần càng không ổn, quá nguy hiểm rồi.”

Hoàng đế Hoằng Trị hỏi: “Cái này không được, cái kia cũng không được, khanh nói xem phải làm thế nào?”

“Vi thần…” Mưu Bân á khẩu, lòng thầm nghĩ: ta thấy cứ đánh cho mấy trận xem sao, trẻ con không nghe lời, đa phần là do thiếu đòn.

Hoàng đế Hoằng Trị thở dài: “Trẫm hiểu ý khanh, nhưng Thái tử giống như miếng đậu phụ rơi vào đống tro tàn, không đánh được, không vỗ được, trẫm sợ làm tổn thương lòng tự tôn của nó.”

Chính là xót con không nỡ đánh! Mưu Bân im bặt, quyết không hùa theo, cứ thế chống cự đến cùng.

Hoàng đế Hoằng Trị nhân hậu, không hề lấy uy quân vương ra chèn ép, tiếp tục khuyên nhủ bề tôi: “Đại Vũ trị thủy thành công là nhờ hiểu được đạo lý chặn không bằng khơi thông, ái khanh hiểu ý trẫm chứ. Muốn chế ngự được dòng lũ, thì phải thuận theo thế nước.”

Mưu Bân giả vờ ngốc nghếch: “Cái gì mà mưa to (Đại Vũ) với mưa nhỏ chứ, vi thần là kẻ thô lỗ, chưa từng nghe qua.”

Ta không mắc lừa đâu! Củ khoai lang nóng bỏng tay này ai thích thì nhận!

Ngươi… Hoàng đế Hoằng Trị còn định khuyên tiếp, bên ngoài đã có tiểu thái giám bước vào bẩm báo:

“Bẩm Hoàng thượng, Thái tử điện hạ xin yết kiến.”

Đào Chu hành lễ với Hoàng đế Hoằng Trị, Mưu Bân thì hành lễ với Đào Chu.

Hoàng đế Hoằng Trị nói: “Ngự án yêu ngôn Trịnh Vượng, trẫm muốn ngự thẩm vụ án này.” Ngự án là vụ án do chính Hoàng đế tự mình thẩm vấn, cấp bậc cao nhất. Chuyện liên quan đến xuất thân của hoàng trữ, bất luận giao cho ai cũng không dám tự ý chủ trì thẩm vấn, chỉ có Hoàng đế đích thân ra mặt mới được.

Mưu Bân và Đào Chu đồng thanh hô: “Hoàng thượng thánh minh.”

Hoàng đế Hoằng Trị nói: “Trẫm trị quốc, sự vụ bận rộn, đối với vụ án này không thể tự mình lo liệu mọi bề. Nhưng trẫm có bề tôi tốt như Mưu ái khanh, lại có một nhi tử ngoan. Thái tử, con đã mười ba tuổi rồi, cũng đã đọc chút sách vở, đến lúc đi theo Mưu ái khanh học hỏi xử lý một số sự vụ, rèn luyện con mắt sáng suốt, thấu hiểu thói đời nóng lạnh. Con chính là tai mắt của trẫm, đem tất cả những gì con biết bẩm báo cho trẫm, giúp trẫm tra rõ chân tướng, xem thử kẻ nào đứng sau giật dây.”

Cả hai nghe xong đều không dám tin vào tai mình.

Mưu Bân: Ta hoàn toàn chưa đồng ý mà, ngài tiền trảm hậu tấu. À không, ngài chính là Hoàng đế, tự tấu tự phê duyệt, tay trái chuyển qua tay phải.

Đào Chu: Ta không nghe nhầm chứ? Phụ hoàng muốn ta tham gia điều tra án? Người không sợ ta lại bỏ trốn sao? Lại còn chuyện liên quan đến xuất thân của ta… Mẫu hậu chắc chắn sẽ không vui.

Hoàng đế Hoằng Trị nói: “Đã không ai có dị nghị gì, vậy cứ quyết định như thế đi. Thái tử, mấy ngày nay con hãy làm tùy tùng của Mưu ái khanh, cải trang vi hành, phải vứt bỏ thân phận, không được kiêu ngạo, đừng có coi mình là Thái tử, hiểu chưa?”

Đến phẫn nữ trang ta còn làm được, thì còn chuyện gì mà ta không làm được chứ? Đào Chu mừng rỡ trong lòng, vội vàng đáp:

“Vâng, nhi thần xin ghi nhớ lời dạy của phụ hoàng.” Cuối cùng cũng không bị nhốt trong Đông Cung chép ‘Hiếu Kinh’ nữa rồi.

Nói rồi thi lễ với Mưu Bân: “Xin Mưu đại nhân chỉ giáo nhiều hơn.”

Lúc không có ai ở đó, Mưu Bân còn có thể “ỷ sủng sinh kiêu”, bác bỏ Hoàng đế Hoằng Trị, nói mình không hiểu “mưa to mưa nhỏ”. Nhưng trước mặt Thái tử, Mưu Bân phải giữ thể diện cho Hoàng đế, vạn bất đắc dĩ phải chấp nhận tên “tùy tùng” này, đáp lễ lại Thái tử:

“Thái tử thông minh hơn người, không cần vi thần phải lắm lời.”

Chuyện cứ thế được định đoạt. Hoàng đế dặn dò: “Con ở ngoài cung, nhớ chú ý an toàn. Bằng tuổi con, trẫm đã có cao thủ như Mưu ái khanh kề cận bảo vệ, trẫm đã chọn vài người từ Ngự Mã giám, họ sẽ chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn cho con. Vào đi.”

Rào rào một tiếng, tám người tiến vào, toàn là đại nội cao thủ.

Bị nhiều người giám sát thế này, thà ta cứ ở lại trong cung còn hơn! Đào Chu vội vàng thoái thác: “Phụ hoàng, nhi thần đã là tùy tùng của Mưu đại nhân ở ngoài cung, bên cạnh dẫn theo nhiều người như vậy sao được? Quá sức gây chú ý rồi, chỉ cần một người là đủ.”

Lúc này đừng đối đầu với nó. Hoàng đế Hoằng Trị nhẫn nhịn, đáp: “Được, con tự chọn đi.”

Đào Chu đảo mắt đánh giá tám vị đại nội cao thủ, họ xếp hàng theo chiều cao, ai nấy đều vô cùng cường tráng, nhưng người đứng ở vị trí cuối cùng lại có vóc dáng nhỏ thó, dường như chỉ đứng đó để cho đủ số, so với vóc dáng của bảy đại nội cao thủ phía trước, chẳng khác nào cây liễu yếu trước gió.

Người này thoạt nhìn trạc tuổi Đào Chu, eo thon chân dài, khó phân nam nữ, gương mặt còn tinh xảo hơn cả cô nương Bội Ngọc ở Phương Thảo viện.

Đào Chu thầm nghĩ, hắn ta xinh đẹp, nhìn cũng bổ mắt. Lại còn cái điệu bộ mình hạc xương mai kia, nhìn là biết thể lực kém, chạy không được xa, nhỡ ta ở ngoài cung muốn bỏ trốn, hắn ta làm sao mà đuổi kịp? Tốt quá rồi.

Cứ coi như bên cạnh có thêm một chiếc bình hoa đẹp mã vô dụng đi. Đào Chu chỉ vào “bình hoa” nói: “Chính là hắn đi.”

Mưu Bân đưa tay đỡ trán, thầm kêu hỏng bét, tên này mang dáng vẻ hồng nhan họa thủy, có phải là kép nam của Giáo Phường Ty đi nhầm chỗ rồi không? Đoán chừng đến một con gà còn chẳng giết nổi, bảo vệ Thái tử kiểu gì đây.

Nào ngờ Hoàng đế Hoằng Trị vỗ mạnh xuống thư án, tán thưởng: “Thái tử tuệ nhãn thức châu, mắt nhìn rất chuẩn. Mạch Tuệ, từ nay về sau, sự an toàn của Thái tử giao cả cho ngươi. Thái tử ở bên ngoài bạch long ngư phục, ngươi cứ tùy cơ ứng biến, đừng gò bó nó quá, chỉ cần mang nó về cung còn sống là được.”

Mạch Tuệ hành lễ: “Nô tỳ tuân chỉ.”

Lúc này Đào Chu vẫn đang chìm đắm trong niềm vui sắp được tự do, hoàn toàn không nhận ra tính nghiêm trọng của vấn đề, hắn đã tự tay rước lấy Mạch Tuệ, nhân vật khó đối phó nhất, về bên mình. Suy cho cùng, Mạch Tuệ cả người toàn gai góc sắc nhọn.

Đào Chu và Mạch Tuệ đều thay trang phục phi ngư của Cẩm Y Vệ, đi theo sau lưng Mưu Bân xuất cung.

Hoàng đế Hoằng Trị nói với bảy đại nội cao thủ còn lại: “Các ngươi hãy trà trộn vào đội ám vệ bảo vệ Thái tử, tùy thời hành động.”

Chỉ có một mụn nhi tử này, Hoàng đế Hoằng Trị nào dám để Đào Chu thực sự dấn thân vào nguy hiểm. Chẳng qua chỉ là thả con chim từ chiếc lồng hữu hình sang chiếc lồng vô hình mà thôi.

Nhi tử độc nhất… Hoàng đế Hoằng Trị nhớ tới việc Lý Các lão vừa mất đi người nhi tử độc đinh Lý Triệu Tiên, trong lòng bỗng dâng lên cảm giác đồng bệnh tương lân, bèn ban thưởng một ít lễ vật, còn phái ngự y đến chữa bệnh trĩ cho Lý Các lão.

Lý Triệu Tiên chết chẳng mấy vẻ vang, nhưng tang lễ lại được tổ chức vô cùng rình rang. Đương nhiên, đó đều là chuyện sau này.

Trên đường đi, Mưu Bân nhìn hai kẻ “kéo chân” này, sầu muốn đứt ruột. Giỏi lắm, vụ án chẳng tiến triển được chút nào, lại còn rước thêm hai kẻ ngáng đường.

Bây giờ phải làm sao đây? Vẫn phải đi tìm nữ nhân đó thôi.

Trên xe ngựa, Mưu Bân dặn dò Đào Chu về những việc sắp phải làm:

“…Cao nhân mà chúng ta sắp mời tuy là thân nữ nhi, nhưng xuất thân danh môn, có bản lĩnh thực sự, tuyệt đối không được coi thường. Chỉ trong mười hai canh giờ, nàng ta đã phá được vụ án nhi tử độc nhất của Lý Các lão bị chém đứt cổ, manh mối đưa tang trong rừng cũng là do nàng ta phát hiện ra, lát nữa thái độ của các ngươi phải cung kính vào.”

Đào Chu như bị sét đánh ngang đầu, đại não ong ong:

“Nữ nhân này… là ai?” Lại là Lục Thiện Nhu sao!

Vốn dĩ Đào Chu còn định tìm cơ hội trốn khỏi Tử Cấm Thành lần nữa, đi cầu xin Lục Thiện Nhu giúp âm thầm điều tra xem yêu ngôn của Trịnh Vượng là thật hay giả.

Bây giờ, người hắn và Cẩm Y Vệ cần nhờ cậy lại là cùng một người!

Đào Chu lại càng sốt ruột hơn: Nếu Lục Thiện Nhu nhận lời mời của Cẩm Y Vệ, nhỡ lời khai của Trịnh Vượng không phải là giả, liệu nàng có chịu đựng nổi áp lực mà theo đuổi chân tướng, nói ra sự thật hay không?

Nếu đúng là như vậy, vụ án này có tra hay không cũng chẳng quan trọng nữa.

Nghĩ đến đây, sự hào hứng lúc mới xuất cung của Đào Chu bỗng chốc tan biến.

Mưu Bân quay lại Bắc Đỉnh, lần thứ ba muốn gặp Lục Thiện Nhu.

Lục Thiện Nhu lại vẫn chưa thức dậy!

Đúng vậy, đã sắp đến trưa rồi mà nàng vẫn còn đang ngủ!

Phượng Tỷ canh cửa thì thầm: “Lục Nghi nhân mà bị đánh thức thì tâm trạng sẽ không tốt, ta còn bắt hết cả ve sầu trên cây đi rồi, chỉ sợ làm ồn đến nàng ấy.”

Mưu Bân sắp phát điên lên được, nhưng đến cũng đã đến rồi, ông lại nổi tiếng từ bi, đâu thể lật tung cả Bắc Đỉnh lên được, đành nói: “Nghe nói bánh bao ở Bắc Đỉnh rất ngon.”

Văn Hư tiên cô vội làm động tác mời: “Chỉ huy sứ đại nhân có thể dùng bữa tại Bắc Đỉnh là niềm vinh hạnh của chúng ta, mời ngài đi lối này.”

Trên đời làm gì có bánh bao miễn phí, Mưu Bân đã quyên góp một trăm lượng bạc tiền nhang đèn.

Lục Thiện Nhu vẫn đang ngủ, Ngụy Thôi Thành thì đã tỉnh giấc trên xe ngựa. Vừa bước xuống xe, ánh mắt chàng lập tức rơi vào… Đào Chu đang đứng sau lưng Mưu Bân.

Cái này… Ngụy Thôi Thành sững sờ.

Đào Chu tung tăng chạy tới chào hỏi: “Vị này chắc hẳn là Ngụy thiên hộ, nghĩa tử của Mưu đại nhân nhỉ! Quả nhiên là tướng mạo bất phàm! Hân hạnh hân hạnh, ta tên Đào Chu, là tùy tùng vừa được Mưu đại nhân tuyển chọn. Võ công của ta thì bình thường, chỉ được cái văn hay chữ tốt, sau này mong Ngụy thiên hộ chiếu cố nhiều hơn.”

Nói xong, Đào Chu nháy mắt ra hiệu liên tục, tròng mắt suýt thì rớt ra ngoài: Đừng nói cho Mưu đại nhân biết chuyện ta ở ngõ Càn Ngư! Bằng không các ngươi sẽ gặp rắc rối lớn đấy!

Ngụy Thôi Thành đâu có ngốc, thừa biết Đào Chu lại giở trò bạch long ngư phục. Nhưng lúc này, chàng đã xem qua bức họa của Đào Chu trong nha môn Cẩm Y Vệ, và cũng đã đích thân xác nhận thân phận người trong tranh với nghĩa phụ rồi!

Vì vậy, Ngụy Thôi Thành giả vờ như không hiểu ám thị của Đào Chu, lên tiếng: “Ngài là Thái tử, ta đã thấy bức họa của ngài trong nha môn Cẩm Y Vệ rồi. Điện hạ vi hành, ta xin phép không hành lễ, mong điện hạ thứ tội.”

Đại não Đào Chu lại một lần nữa bị sét đánh, nhớ lại quá trình “chạy trốn” khỏi ngõ Càn Ngư, lập tức bừng tỉnh đại ngộ.

Hóa ra Ngụy Thôi Thành đã sớm biết được thân phận của ta, nên lúc mở khóa mới bắt ta đi vệ sinh trước, trong nhà vệ sinh vừa vặn lại có một thùng phân rỗng…

“Lần đầu gặp mặt, tặng ngươi một con ngựa vậy, ngựa tốt phải sánh cùng trụ cột quốc gia.”

Đào Chu nhân lúc dúi dây cương vào tay Ngụy Thôi Thành, ghé sát tai nói thầm: “Cái thùng phân trong nhà vệ sinh, cả con ngựa trong chuồng nữa, đều là do ngươi cố ý sắp xếp đúng không? Ngươi muốn ta đi, lại không muốn bị liên lụy vào.”

Ngụy Thôi Thành gật đầu, đáp lại: “Đến cả yên ngựa cũng được thắt chặt sẵn cho ngài, nếu không sao ngài có thể chạy nhanh như thế? Chúng ta thỏa thuận rồi nhé, chuyện ở ngõ Càn Ngư đừng nói cho bất kỳ ai biết.”

Như thế là tốt nhất. Đào Chu gật đầu: “Bên phía Phượng Tỷ và Ôn ma ma, ngươi phải nghĩ ra một lời nói dối giúp ta, tuyệt đối không được để họ biết.”

Ngụy Thôi Thành đáp: “Ta vào bàn bạc với Lục Nghi nhân xem phải làm sao.”

Ngụy Thôi Thành ăn ngấu nghiến xong bữa cơm, cáo từ nghĩa phụ: “Chắc Lục Nghi nhân sắp tỉnh rồi, con qua đó xem sao.”

Ngụy Thôi Thành đến thiền phòng của Lục Thiện Nhu, Ôn ma ma vừa hay bưng thau nước rửa mặt ra: “Lục Nghi nhân đang chải đầu trang điểm, sẽ xong ngay thôi.”

Trong phòng vọng ra tiếng của Lục Thiện Nhu: “Nếu là Ngụy thiên hộ thì cứ để huynh ấy vào đi, hẳn là có việc gì gấp gáp.”

Ngụy Thôi Thành bước vào phòng, Lục Thiện Nhu đang ngồi trước gương đeo khuyên tai vàng đính đá lam bảo thạch.

Vì chuyện của Đào Chu không tiện để người ngoài biết, nên Ngụy Thôi Thành bước tới gần, thì thầm với Lục Thiện Nhu:

“…Bây giờ ngài ấy bạch long ngư phục đến đây, chúng ta phải bịa cho ngài ấy một thân phận hợp lý, để còn ăn nói với Ôn ma ma và Phượng Tỷ.”

“Đúng là bớt đi một việc còn hơn thêm một việc.” Lục Thiện Nhu trầm ngâm: “Bịa ra thân phận gì bây giờ…”

Lục Thiện Nhu vừa suy nghĩ, vừa dùng tay miết sợi móc khuyên tai vừa mảnh vừa cong, cố xỏ vào lỗ tai.

Thế nhưng xỏ mãi xỏ hoài vẫn không trúng, ánh mắt Ngụy Thôi Thành như một con mèo dõi theo đốm sáng, bất giác di chuyển theo chiếc móc sắc nhọn ấy.

Lần này mũi kim cuối cùng cũng nhắm trúng lỗ tai, chỉ cần đâm xuyên qua là xong. Ngụy Thôi Thành nín thở, sợ làm phiền Lục Thiện Nhu.

Nhưng sợi móc lại trượt khỏi lỗ tai, không những thế, còn đâm vào dái tai rỉ ra một giọt máu nhỏ.

“Ây da.” Lục Thiện Nhu khẽ kêu lên một tiếng, bỏ khuyên tai xuống, cầm khăn tay ấn vào dái tai: “Lâu rồi không đeo, lóng ngóng tay chân, đến lỗ tai cũng bít lại rồi.”

Ngụy Thôi Thành nghe thấy vậy, trái tim đập thình thịch, yết hầu trượt lên trượt xuống, chàng ngồi xổm nhặt chiếc khuyên tai rơi trên đất lên, trên móc vẫn còn dính chút máu.

Lục Thiện Nhu nói: “Ta nghĩ ra rồi, cứ nói Đào Chu là em vợ của nghĩa phụ huynh, từ nhỏ đã nghịch ngợm, thích ảo tưởng mình là nữ hiệp, ỷ có tỷ phu làm Chỉ huy sứ Cẩm Y Vệ nên giả nữ trang đi hành hiệp trượng nghĩa khắp nơi. Hiện tại đang lăn lộn ăn bám trong Cẩm Y Vệ, làm tùy tùng cho nghĩa phụ huynh.”

Ngụy Thôi Thành hồi thần lại, đặt khuyên tai lên bàn, hắng giọng nói: “Nhưng nghĩa mẫu của ta không phải họ Đào.”

Lục Thiện Nhu tiếp lời: “Thế thì bảo là biểu đệ bên nhà ngoại của nghĩa mẫu huynh, coi như nửa người em vợ.”

Bà con xa bắn đại bác không tới, họ gì chẳng được. Ngụy Thôi Thành gật đầu: “Lý do này ta thấy được đấy, ta đi nói với họ đây.”

Ngụy Thôi Thành gần như bỏ chạy thục mạng, Lục Thiện Nhu cầm khuyên tai lên, bên trên vẫn còn lưu lại mồ hôi ướt đẫm trong lòng bàn tay Ngụy Thôi Thành.

Huynh không thoát khỏi lòng bàn tay ta đâu. Lục Thiện Nhu nhìn vào gương mỉm cười đầy tà mị quyến rũ, vứt khuyên tai vào hộp trang sức rồi khóa lại. Con thỏ trắng nhỏ này, mai sau ăn vào bụng, hương vị chắc chắn sẽ rất tuyệt.

Lục Thiện Nhu dùng xong bữa cơm, Phượng Tỷ bước vào nói: “Lục Nghi nhân, Mưu đại nhân lại, lại đến nữa rồi.”

Tại khách đường, thái độ của Mưu Bân khác hẳn vẻ trịch thượng lúc mới đến lần đầu, ôm quyền nói:

“Lục Nghi nhân, ta đã đến đây ba lần rồi, Lưu Hoàng Thúc năm xưa ba lần đến lều cỏ thỉnh Gia Cát Lượng cũng chỉ đến thế này thôi. Xin phu nhân hãy xuất sơn, giúp ta phá án.”

Thấy thật sự không thể thoái thác được nữa, Lục Thiện Nhu đặt chén trà xuống, nói: “Ta đã thấy được thành ý của Mưu đại nhân, ta sẵn lòng giúp ngài một tay, nhưng trước đó, ta có hai yêu cầu, ngài đồng ý thì ta mới xuống núi. Ngài mà không đồng ý, nhất quyết ép buộc ta, thì ta sẽ…”

Lục Thiện Nhu đứng dậy, chắp tay bái lạy về phía bức tượng Bích Hà Nguyên Quân được thờ phụng trên Bắc Đỉnh, quả quyết: “Thì ta sẽ lại xuất gia, đoạn tuyệt hồng trần, không màng thế sự.”

“Tuyệt đối không được!” Mưu Bân và Ngụy Thôi Thành đồng thanh thốt lên. Đôi cha con không cùng huyết thống này lần đầu tiên tỏ ra ăn ý đến vậy, cả hai đều phản đối kịch liệt, chỉ là mục đích khác nhau.

Mưu Bân vội nói: “Lục Nghi nhân xin cứ nói.”

Lục Thiện Nhu tuyên bố: “Thứ nhất, ta chỉ điều tra một vụ án, đó là tìm ra hung thủ trong thảm án diệt môn nhà Ngô công công. Một khi tìm được hung thủ thực sự, đối với ta, vụ án sẽ khép lại, ta phải toàn thân rút lui, không can dự vào bất kỳ chuyện nào khác, ví dụ như vụ án Trịnh Vượng mất tích, ta tuyệt đối không quản.”

Lục Thiện Nhu không thể quên được thiếu nữ được vớt lên từ dưới hồ, đêm qua nằm mộng nàng cũng thấy cô bé ấy.

Cái lương tri chết tiệt này, sao đuổi đi không được? Ta cứ không nhịn được mà xen vào chuyện người khác. Mỗi khi ta muốn chỉ lo thân mình, lương tri lại cầm roi đánh ta, khiến ta không sao yên lòng.

“Chuyện này…” Thực ra Mưu Bân muốn Lục Thiện Nhu giải quyết cả hai vụ án, nhưng nghĩ lại, tìm ra được hung thủ vụ diệt môn, thì còn cách Trịnh Vượng bao xa nữa đâu!

Thế nên Mưu Bân lập tức gật đầu: “Được, ta đồng ý.”

“Điều thứ hai.” Lục Thiện Nhu nói tiếp: “Bất kể ta có tìm được hung thủ hay không, Cẩm Y Vệ tuyệt đối không được tiết lộ việc ta hỗ trợ điều tra án. Ta không muốn rước họa vào thân. Lát nữa ta sẽ phẫn nam trang, mặc y phục của Cẩm Y Vệ đi cùng mọi người, ẩn dật danh tính.”

Mưu Bân vỗ ngực đảm bảo: “Ta đều có thể đáp ứng.”

Chuyện cứ thế được định đoạt, Lục Thiện Nhu thay bộ trang phục phi ngư: “Mọi người cứ gọi ta là… Lục Thiêm sự.”

Thiêm sự, võ quan tứ phẩm, vừa vặn cao hơn Thiên hộ một bậc, đè đầu cưỡi cổ Ngụy Thôi Thành.

Ngụy Thôi Thành mỉm cười hiểu ý, làm động tác mời: “Lục Thiêm sự, mời lên xe.”

“Không cần. Làm gì có Thiêm sự nào lại không biết cưỡi ngựa.” Lục Thiện Nhu đạp chân lên bàn đạp, dứt khoát lưu loát tung người lên ngựa, dáng vẻ vô cùng điêu luyện!

Lục Thiện Nhu, nàng còn có kỹ năng gì mà ta không biết nữa đây? Ngụy Thôi Thành vỗ ngựa bám sát theo sau.

Mưu Bân tức điên người: Thằng nhãi ranh này, đến cả nghĩa phụ cũng mặc kệ, chỉ biết chạy theo góa phụ xinh đẹp!

Đào Chu và hộ vệ Mạch Tuệ cũng thúc ngựa đuổi theo!

Mưu Bân: Hai người các ngươi không phải là tùy tùng của ta sao? Sao cũng chạy theo góa phụ rồi?

Công việc này làm sao mà làm được nữa! Mưu Bân hầm hầm tức giận thúc ngựa đuổi theo Thái tử Đào Chu.

Đến khu trại ven hồ, Lục Thiện Nhu chạy thẳng đến phòng chứa xác.

Thi thể đã được ngỗ tác của Cẩm Y Vệ khám nghiệm xong, vì vậy Lục Thiện Nhu lật xem tờ biên bản nghiệm thi do ngỗ tác điền vào trước, xem xét từng trang một.

Chín người nhà Ngô công công không chết cùng một nguyên nhân.

Ngô công công chết vì bị đâm trúng tim, chỉ một nhát dao đoạt mạng, xem ra hung thủ là cao thủ đã qua huấn luyện.

Ngô phu nhân chết vì ngạt thở, bị siết cổ. Trên cổ có một vết hằn, dài chéo tám tấc, rộng một phân, sâu ba phân, màu đỏ tía, vết hằn không lấn vào chân tóc, hai vệt cắt chéo giao nhau hình chữ bát sau gáy, chẩn đoán là bị người ta siết cổ đến nghẹt thở mà chết.

Con cháu đều chết vì trúng độc, môi đen kịt, thất khiếu vẫn còn vết máu đọng.

Ngỗ tác ghi chú, chất độc là thạch tín.

Đúng như Lục Thiện Nhu đã nhận định từ trước, không ai chết vì đuối nước, họ đều bị vứt xác ở đây.

Ánh mắt Lục Thiện Nhu dừng lại trên bảy thi thể trúng độc, nói: “Thạch tín phát tán rất nhanh, thức ăn chưa kịp tiêu hóa đã mất mạng. Phiền ngỗ tác mổ dạ dày họ ra, xem có thể tìm thấy điểm chung nào từ lượng thức ăn thừa hay không, từ đó suy đoán xem họ đã ăn phải thứ gì mà trúng độc.”

Vài ngỗ tác cùng bắt tay vào làm, mổ bụng phanh ngực, đáp án nhanh chóng được tìm ra.

Hạt sen, ngó sen, củ ấu, hạt súng, hạt óc chó, hạnh nhân.

Đây là những thứ gần như đều có mặt trong dạ dày của mỗi nạn nhân trúng độc.

Nhìn vào mấy nguyên liệu này, hầu như tất cả mọi người đều đồng thanh thốt lên: “Là băng oản!”

Băng oản là món ăn đặc trưng của Bắc Kinh. Giữa mùa hè oi bức, người ta dùng đá vụn rải dưới đáy bát, đặt hạt sen, ngó sen cùng bốn loại thủy sản tươi, sau đó thêm quả óc chó, hạnh nhân tươi, rót nước đường hoa quế vào. Món này mát lạnh ngon miệng, vô cùng được ưa chuộng.

Vì đá viên vào mùa hè rất đắt đỏ, nên băng oản là món giải nhiệt dành cho người có tiền, bá tánh bình thường chỉ uống canh đậu xanh, ăn dưa hấu để giải nhiệt.

Lục Thiện Nhu nhìn thi thể của Ngô công công và Ngô phu nhân, suy đoán: “Hai người già tỳ vị yếu, không dám ăn đồ lạnh nên chỉ có con cái ăn băng oản. Hai người họ, một người bị đâm chết, một người bị siết cổ chết.”

Lời tác giả:

Lục Thiện Nhu, Ngụy Thôi Thành, Phượng Tỷ, Đào Chu, Mạch Tuệ, nhóm nhân vật chính đã tập hợp đông đủ, màn kịch lớn bắt đầu rồi đây.

Chương trước Chương tiếp

Truyện hot hiện nay

Thư Hương Quý Nữ

Phong gia đại viện

Thiên Tài Phác Họa

Quý Phi Thanh Xuyên Sống Trường Thọ

Thiền Nguyệt

Đại Minh Nữ Trinh Thám

Bình luận truyện

Đang update