Đại Minh Nữ Trinh Thám
Chương 1: Đêm Nguyên tiêu Lục gia bị diệt môn, góa phụ kiều diễm mở tiệc tại hung trạch
# Vụ án thứ nhất: Mã Thượng Phong
“Liên tiếp bốn năm chủ, tai ương cứ nối đuôi, mười năm ròng rã ấy, bất lợi cho chủ nhân”.
Câu này trích từ bài “Hung trạch” của thi sĩ Bạch Cư Dị đời Đường, kể về một ngôi nhà dữ ở Trường An, nơi mà các đời chủ nhân đều không có kết cục tốt đẹp.
Câu chuyện của cuốn sách này cũng xin được bắt đầu từ một căn hung trạch như thế.
Chuyện kể rằng trong ngõ Càn Ngư, phường Trừng Thanh ở Bắc Kinh, vốn có một tòa đại trạch nhị tiến khang trang, bề thế. Chủ nhân họ Lục, xuất thân cử nhân, vốn là quan Thôi quan chuyên trách hình án của nha môn phủ Thuận Thiên.
Lục Thôi quan phá án như thần, tính tình cương trực, không sợ quyền quý, đã nhiều lần đưa con cháu thế gia ra pháp trường chặt đầu, tiếng vang lẫy lừng trong dân gian, được ca tụng là Lục Thanh Thiên thiết diện vô tư.
Ngày mười sáu tháng Giêng, Tết Nguyên tiêu vừa qua, kỳ nghỉ Tết kết thúc, các nha môn bắt đầu khai ấn làm việc, nhưng Lục Thanh Thiên mãi vẫn không thấy đến nha môn Đề Hình Sở phủ Thuận Thiên điểm danh.
Ngày thường Lục Thanh Thiên luôn đi sớm về muộn, cần mẫn làm việc, nhiều năm làm quan chưa từng đi muộn. Dẫu có việc xin nghỉ, ông cũng sai thư đồng hoặc tiểu sai đến nha môn báo tin, tuyệt đối không để chậm trễ công vụ.
Đồng liêu ở Đề Hình Sở cảm thấy có chuyện chẳng lành, bèn nhờ Thiên hộ Chưởng hình Chu đại nhân đến tận cửa Lục trạch thăm hỏi để xem thực hư ra sao.
Chu Thiên hộ cưỡi ngựa phi nhanh đến Lục trạch ở ngõ Càn Ngư. Đêm qua tuyết rơi dày, trước cửa tuyết phủ trắng xóa dày như viên gạch, không hề có dấu chân, xem ra chủ nhân vẫn chưa ra khỏi cửa. Ông gõ vòng cửa, xưng danh: “Ta là Chu Thảng, Thiên hộ Đề Hình Sở! Lục đại nhân có nhà không?”
Hồi lâu không thấy tiếng đáp lại, Chu Thiên hộ dùng sức đẩy mạnh, cửa lớn vậy mà không được cài then từ bên trong, cứ thế mở toang ra!
Lòng đầy bất an, Chu Thiên hộ tuốt kiếm xông vào Lục trạch, trước mắt ông hiện ra cảnh tượng xác c.h.ế.t khắp nơi, máu bắn lên tận xà nhà, một bầu không khí c.h.ế.t chóc bao trùm, oán khí ngút trời!
Sau khi kiểm đếm, tổng cộng có mười sáu thi thể. Cả nhà năm người của Lục Thanh Thiên cùng mười một hạ nhân đều mất mạng. Trên nền tuyết trắng, màu đỏ của máu tươi càng thêm nhức mắt.
Chỉ duy nhất tiểu nữ nhi của Lục Thanh Thiên là Lục nhị cô nương bị đâm một kiếm vào ngực nhưng không trúng chỗ hiểm, được Chu Thiên hộ cứu sống, giữ lại được một mạng.
Nhưng phận nữ nhi không thể nối dõi tông đường, Lục gia từ đây tuyệt tự, coi như đã bị diệt môn.
Lục gia bị diệt môn, Lục nhị cô nương mang trọng thương lại cô độc không người nương tựa. Họ hàng thân thích kéo đến tranh giành gia sản, Lục trạch rơi vào tay tộc trưởng Lục gia. Nhưng dọn vào ở chưa được bao lâu, vị tộc trưởng nọ đã vội vàng sang tay. Nghe nói nơi này có ma ám, tộc trưởng bị dọa đến mức trúng phong, nửa người không thể cử động.
Lục trạch qua tay nhiều người, chủ nhân thay đổi liên tục nhưng chuyện ma ám thì vẫn y nguyên. Những gia đình dọn đến nếu không có người c.h.ế.t thì cũng bị giáng chức hoặc vướng vào kiện tụng, gia đạo bất ninh.
(*) Gia đạo bất ninh: gia đình không yên ổn.
Đúng như lời trong bài “Hung trạch” của Bạch Cư Dị: “Liên tiếp bốn năm chủ, tai ương cứ nối đuôi”. Lục trạch trở thành hung trạch nổi danh nhất phía Đông thành Bắc Kinh.
Giá của ngôi nhà này ngày càng rẻ mạt, người mua sau đều thua lỗ hơn người trước. Đến đời chủ cuối cùng, dù đã hạ giá xuống mức rất thấp vẫn chẳng ai dám hỏi mua, đành phải chuyển sang cho thuê. Nhờ giá thuê rẻ mạt, căn nhà cuối cùng cũng có người đến ở. Suy cho cùng thì so với ma quỷ, cái nghèo vẫn đáng sợ hơn nhiều.
Quỷ c.h.ế.t có là gì? Quỷ nghèo mới là con quỷ đáng sợ nhất.
Mười bốn năm sau vụ thảm án diệt môn Lục gia, vào năm Hoằng Trị thứ mười bảy triều Minh, căn hung trạch đón chào một vị chủ nhân mới.
Nắng hạ rực rỡ khiến lớp sơn xanh trên cửa lớn Lục trạch khô khốc, bong tróc từng mảng, lộ ra màu gỗ nguyên bản lốm đốm, trông như những vết đồi mồi trên da thịt của một lão nhân sắp lìa đời.
Một nhóm phụ nhân tay bưng thùng nước, đầu quấn khăn lớn đẩy cánh cửa loang lổ bước vào. Họ tản ra các gian phòng quét dọn bụi bặm, bắc thang cuốn sạch mạng nhện trên xà nhà. Từ sáng sớm đến hoàng hôn, mọi ngóc ngách đều được lau chùi sạch sẽ, không vương một hạt bụi.
Sau đó, từng đoàn xe la nối đuôi nhau tiến vào sân. Đoàn xe treo cờ hiệu của tiêu cục Tam Thông, các tiêu sư dỡ từng hòm xiểng xuống xe, khiêng vào chính phòng.
Tiêu đầu cầm danh sách đi tới bên một chiếc xe ngựa trong sân, chắp tay thưa: “Lục Nghi nhân, toàn bộ ba mươi bảy hòm đồ đều đã được chuyển vào trong.”
Người thuê họ Lục, tên gọi Lục Thiện Nhu, là một vị cáo mệnh phu nhân hàng ngũ phẩm. Ở triều đại Minh, cáo mệnh ngũ phẩm được gọi là Nghi nhân, nên mọi người đều tôn kính gọi nàng là Lục Nghi nhân.
Một phụ nhân trung niên đứng hầu bên cạnh vén rèm xe, đỡ Lục Thiện Nhu xuống ngựa.
Lục Thiện Nhu búi tóc hình tròn, trên tóc điểm xuyết vài đóa hoa mai bằng bạch ngọc và trân châu tinh xảo. Nàng diện bộ áo xanh tay rộng, dưới mặc váy trắng thêu tinh tế, khí chất thanh cao thoát tục, gương mặt hiền hòa như Quan Âm.
Lục Thiện Nhu nhận lấy danh sách bước vào phòng, sau khi kiểm kê hòm xiểng xong liền lấy ra một túi bạc: “Đây là tiền tiêu phí.”
Nàng lại lấy từ túi gấm ra một lá bạc: “Đây là chút tiền trà nước mời các vị, đường xa vất vả, mọi người đã nhọc lòng rồi.”
Túi bạc và lá bạc được đặt trên một chiếc khay sơn đỏ, do phụ nhân trung niên dâng cho tiêu đầu.
Tiêu đầu ước lượng sức nặng của lá bạc, ít nhất cũng phải hơn ba lạng. Ở đất kinh sư quyền quý tụ hội, mức thưởng này tuy không quá xa hoa nhưng tuyệt đối là rất có thể diện.
Tiêu đầu dẫn các tiêu sư chắp tay hành lễ, cảm tạ Lục Thiện Nhu rồi cáo từ ra về.
Lục Thiện Nhu lấy giấy mực, viết hai tấm thiếp mời, cuối thư ký tên: “Cáo phong Nghi nhân Chu môn Lục thị”.
Trước tiên là khẳng định địa vị cáo mệnh ngũ phẩm, sau đó là họ Chu của phu gia, cuối cùng mới là họ của mình – Lục thị.
Nàng khẽ thổi cho khô mực, rồi đưa cho người phụ nhân trung niên đang xếp y phục vào tủ:
“Ôn ma ma, chiều tối mai hãy bày tiệc dưới gốc cây ngô đồng trong sân, mời hai vị khách trọ ở Đông sương và Tây sương dùng bữa. Đây là thư mời.”
Người thuê mới Lục Thiện Nhu ở tại gian chính phòng tọa Bắc hướng Nam, còn Đông sương phòng và Tây sương phòng nằm ở hai bên sân lớn, là nơi ở của hai vị khách trọ không sợ ma.
Hoàng hôn ngày hôm sau, tán lá sum suê của cây ngô đồng như một chiếc ô khổng lồ che chắn dư huy của nắng chiều. Dưới gốc cây gió mát hiu hiu, ba chiếc bàn được bày ra với đủ loại trái cây tươi ngon theo mùa như dưa hấu, củ ấu, hạt sen. Món mặn có ngỗng quay, đùi ếch xào, cùng ba món hải sản: sò nướng, tôm luộc và dưa chuột trộn tôm khô.
Bữa tiệc thịnh soạn như vậy thể hiện thành ý rất lớn của gia chủ. Ôn ma ma ngồi bên bếp lửa nhỏ lọc rượu, hương rượu nồng nàn lan tỏa theo gió, khiến người ta chưa uống đã thấy thèm.
Khách và chủ gồm ba người, mỗi người một bàn, xếp theo hình chữ “Phẩm”. Chủ nhân Lục Thiện Nhu ngồi giữa, lưng tựa vào gốc cây ngô đồng, một nam một nữ khách trọ ngồi hai bên Đông Tây, món ăn trên mỗi bàn đều giống hệt nhau.
(*) Chữ “phẩm”: 品
Khách thuê ở Đông sương phòng là nam tử, đội lưới đen, mặc áo choàng xanh lam, dáng vẻ tuấn tú nhưng đôi mắt lại vừa sáng vừa lạnh, tựa như ánh trăng rằm đêm đông chiếu rọi trên nền tuyết trắng dã.
Nam tử chỉ cúi đầu dùng bữa, ít nói ít cười. Dẫu nữ chủ nhân bữa tiệc có vẻ đẹp tựa Quan Âm, người này cũng tuyệt đối không nhìn thêm lấy một lần, bày ra vẻ mặt như thể đã đoạn tuyệt hồng trần, dứt bỏ mọi dục vọng.
Khách thuê ở Tây sương phòng là một thiếu nữ chưa gả, tóc mái bằng phủ chân mày, búi tóc kiểu vỏ sò, tóc sau xõa ngang vai. Trẻ con Minh triều bất kể nam nữ đều phải cạo tóc, trước tám tuổi chỉ để lại chỏm tóc trên đỉnh đầu, còn lại cạo sạch như chú tiểu, sau tám tuổi mới bắt đầu nuôi tóc. Do đó tóc mái và tóc sau của cô nương này còn ngắn, chưa thể búi lên hết mà phải xõa ra, nhìn độ dài mái tóc, có lẽ tối đa chỉ mười bốn, mười lăm tuổi.
Nàng ấy có đôi mắt phượng, chân mày dài, tính tình hoạt bát lém lỉnh, hay nói hay cười, mang phong thái của một nữ hiệp giang hồ. Khi Ôn ma ma lọc rượu, nàng liền rời khỏi chỗ, khom lưng chắp tay, nhón chân nhìn ma ma làm việc. Chiếc mũi tròn trịa khẽ phập phồng, nàng cất giọng quan thoại đặc sệt khẩu âm Sơn Đông: “Thơm quá! Giống như rượu Thu Lộ Bạch của vùng Sơn Đông chúng ta vậy.”
Ôn ma ma vội đáp: “ Chính là Thu Lộ Bạch đấy ạ, loại rượu nếp được cất từ sương đọng trên nhụy hoa sen. Lão thân đã rót sẵn một ấm rồi, xin mời quý khách trở lại bàn dùng rượu.”
Nữ khách trọ trở lại bàn, Ôn ma ma cầm bình rót rượu. Trong hai vị khách, nam tử rõ ràng lớn tuổi hơn nên theo thứ tự lớn nhỏ, ma ma định rót cho người này trước.
Nào ngờ nam khách trọ đưa tay ngăn bình rượu lại: “Ta không uống rượu.”
Lục Thiện Nhu lên tiếng: “Khách nhân có điều kiêng kỵ, vậy hãy dâng cho ngài ấy một bình trà.”
Thấy thái độ của nam khách trọ lạnh nhạt, nàng cũng không nài ép, quay sang cùng nữ khách trọ đối ẩm vài chén. Đối diện với bàn tiệc thịnh soạn cùng rượu ngon như thế, nàng vẫn khiêm nhường lên tiếng: “Yến tiệc không nhạc không vui, đáng lẽ nên mời người đàn hát đến trợ hứng, nhưng vì ta thân đang ở góa, không tiện khua chiêng gõ trống, mong hai vị lượng thứ cho.”
Nữ khách trọ uống đến độ hứng khởi, liền bảo vú Ôn mang thêm một ấm nữa rồi tự rót tự uống: “Rượu ngon món tốt, Lục Nghi nhân thật quá khách sáo rồi.”
Nam khách trọ dường như đã dùng bữa xong, nghe vậy bèn buông đũa, lạnh lùng nói: “Bữa tiệc hôm nay có chuyện gì? Lục Nghi nhân có lời thì cứ nói thẳng, lát nữa ta còn có công chuyện phải làm.”
Người này có tính cách kỳ quái gì vậy? Sao lời nói còn khó nuốt hơn bánh bột đậu? Lục Thiện Nhu không hề lộ vẻ giận dữ, vẫn ôn hòa hỏi: “Vẫn chưa biết nên xưng hô với các hạ như thế nào?”
Nam khách trọ chắp tay nói: “Thiên hộ Huấn Tượng Sở thuộc Cẩm Y Vệ, Ngụy Thôi Thành.”
Cẩm Y Vệ có tổng cộng hai ty và mười hai sở. Quyền thế nhất là Trấn Phủ Ty, còn Huấn Tượng Sở bị xem là nơi hẻo lánh, bổng lộc không nhiều, chẳng trách Ngụy Thôi Thành phải thuê một căn hung trạch.
Nhưng dù là nha môn hẻo lánh thì vẫn thuộc biên chế Cẩm Y Vệ, bảo sao dáng vẻ lại cao ngạo đến vậy.
Nữ khách trọ cảm thấy thái độ của Ngụy Thôi Thành có chút ngạo mạn, nghé con không sợ hổ liền cất giọng mỉa mai: “Làm láng giềng năm ngày rồi mới biết ngài là Thiên hộ đại nhân của Huấn Tượng Sở đấy. Một võ quan ngũ phẩm đường đường chính chính, thật thất kính, thất kính!”
Hóa ra hai vị khách trọ này trước giờ chẳng qua lại với nhau.
Nàng lại cười hì hì nâng ly về phía Lục Thiện Nhu: “Ta tên Đào Chu, gia đình buôn bán ở Sơn Đông. Ta đến kinh thành để tìm người thân, vừa mới dọn đến đã gặp được người láng giềng tốt như Lục Nghi nhân, thật là hữu duyên! Vừa rồi nghe Ôn ma ma nói rượu Thu Lộ Bạch này là do tỷ tỷ mang từ Sơn Đông tới, tỷ tỷ cũng là người Sơn Đông sao?”
Lục Thiện Nhu mỉm cười lắc đầu: “Ta là người kinh thành. Sau khi xuất giá liền đi theo phu quân đến nơi nhậm chức. Phu quân qua đời, ta đưa linh cữu chàng về quê nhà Sơn Đông, chịu tang ba năm xong mới quay về. Nghĩ đến việc lá rụng về cội nên ta dọn về căn nhà cũ của tổ tông này.”
Nghe đến hai chữ “nhà cũ”, Ngụy Thôi Thành mới thực sự ngẩng đầu, lần đầu tiên nhìn thẳng vào nàng góa phụ kiều diễm này để quan sát kỹ lưỡng.
Đào Chu tính tình thẳng thắn, không kìm được, ngụm rượu Thu Lộ Bạch suýt chút nữa thì phun ra ngoài. Nàng vội bịt miệng nuốt xuống, vừa ho vừa nói:
“Tỷ… tỷ… tỷ tỷ chính là vị Lục nhị cô nương mạng lớn đó sao?”
Căn hung trạch này quá nổi tiếng, đến nha nhân cũng chẳng dám giấu giếm khách thuê. Phường Trừng Thanh nằm ở trung tâm kinh thành, ngay sát cửa Đông An của hoàng cung, là nơi hội tụ của các huân quý, hoàng thân và đại quan. Chỉ riêng vương phủ đã có đến mười mấy tòa, giá nhà cực đắt. Giá thuê rẻ như vậy nhất định phải có nguyên do “đặc biệt”. Ai dám thuê nhà này đều đã rõ lai lịch của nó.
(*) Nha nhân: người môi giới nhà đất
Đêm Nguyên tiêu, Lục gia bị diệt môn, mười sáu mạng người, chỉ một người sống sót. Thế nhưng, người thuê nhà này dẫu biết rõ nhà có quỷ, vẫn cố tình tìm đến.
“Chính là ta.”
Lục Thiện Nhu đổ chén rượu Thu Lộ Bạch xuống đất để kính vong linh người thân: “Ta là nhị cô nương của Lục gia, ta về nhà rồi.”
Bình luận truyện
Đang update