Quý Phi Thanh Xuyên Sống Trường Thọ
Chương 28: Con Cái
Tết ở Tử Cấm Thành là cảnh trăm trò mua vui, ca múa nhạc kịch giữa chốn gấm hoa phú quý của thiên gia. Nhưng khi đám phi tần tụ lại một chỗ, điều các nàng thích bàn tán nhất vẫn là trò cười ở Hàm Phúc cung.
Trong cung thậm chí còn rộ lên phong trào tặng nhau các loại điểm tâm làm từ sữa.
Vì vào tiệc đầy tháng của Lục A ca Hoàng thượng phải đi Viên Minh Viên, chủ vị của các cung liền gửi lễ vật đầy tháng cho Thuần Phi trước, rồi phủi váy áo đi theo thánh giá đến Viên Minh Viên.
Tiên đế đã dồn rất nhiều tâm huyết để tu sửa Viên Minh Viên, ngài từng đắc ý nói rằng: “Nhà Tần có cung A Phòng, nhà Hán có Thượng Lâm Uyển, nhà Đường có Tú Lĩnh Sơn, nhà Tống có Cấn Nhạc Uyển, ta tuy không làm việc xa hoa nhưng cũng có Viên Minh Viên. ①”.
Dẫu sao Tiên đế cũng là một người cầu toàn và mắc chứng ám ảnh cưỡng chế, đã làm là phải làm tốt nhất, không để ai qua mắt được, hiếm có quan viên nào dám làm việc tắc trách dưới mắt Ung Chính gia.
Lão nhân gia ngay cả cái chuồng cho chó cưng cũng phải tự tay thiết kế, liên tục cải tiến làm khổ Nội Vụ Phủ suốt hơn một năm trời. Huống hồ là biệt viện nơi ông thường xuyên lui tới, đương nhiên càng phải tự mình thiết kế bản vẽ, lệnh cho Công Bộ và Nội Vụ Phủ nghiêm ngặt giám sát việc thi công, cuối cùng tạo nên Viên Minh Viên – vườn của muôn vườn.
Trong Tử Cấm Thành, Hoàng hậu ở Trường Xuân cung, khi đến Viên Minh Viên thì ở Trường Xuân Tiên quán.
Còn Quý phi ở tại Vạn Phương An Hòa quán.
Cao Tĩnh Thư rất thích dãy nhà này. Lúc ấy trời đang lác đác đổ tuyết, những bông tuyết mỏng nhẹ rơi xuống rừng trúc bên ngoài Vạn Phương An Hòa, phát ra tiếng xào xạc khe khẽ. Cảnh tượng ấy chẳng khác nào câu “tuyết rơi xào xạc, âm vận thanh tao, khiến lòng người thanh tịnh” được tả trong sách.②.
Kể từ khi đến đây, Cao Tĩnh Thư chưa bao giờ cảm thấy lòng bình yên đến thế.
Nàng ngồi bên cửa sổ thật lâu, xuyên qua chiếc giá gỗ chạm khắc tinh xảo bên tường nhìn ra ngoài, chỉ thấy Vạn Phương An Hòa mang bố cục thâm u mà tinh xảo, từng hành lang mái hiên uốn lượn nối tiếp nhau, toát lên vẻ thanh nhã kín đáo. Kết hợp với cảnh tuyết bay trúc biếc, khí lạnh thanh tao xộc thẳng vào cánh mũi. Nhìn ra ngoài hiên không phải là tường hồng lối nhỏ trong cung, mà là vườn tược tinh xảo, cây cối xanh tươi, nước non trong vắt, thanh khiết đáng yêu.
So với nơi này, Tử Cấm Thành bỗng chốc trở nên chật chội và áp bách.
Cao Tĩnh Thư vốn còn thấy căn hộ bốn phòng một khách của Chung Túy cung rất ổn, nhưng khi thấy Vạn Phương An Hòa quán này, nàng bỗng chẳng muốn quay về Chung Túy cung nữa.
Chẳng trách từ thời Ung Chính gia, năm nào cũng ở lại Viên Minh Viên vài tháng, thực sự thoải mái hơn ở trong cung nhiều.
Nghe nói bên ngoài Cửu Châu Thanh Yến nơi Hoàng đế ở, đại cung môn có năm gian, hai bên trái phải trước cửa đều đặt công phòng làm việc của Lục bộ, Tam viện cùng Nội Vụ phủ, gần như là một hoàng thành thu nhỏ, ở đây cũng không hề làm lỡ việc triều chính.
Đến Viên Minh Viên, nụ cười của Hoàng hậu dường như cũng tươi tắn hơn khi ở Tử Cấm Thành.
Cao Tĩnh Thư ngồi bên dưới, thầm thì kể cho nàng nghe chuyện tiểu cung nữ nàng để lại Tử Cấm Thành vẫn bất kể mưa nắng đều đặn mỗi ngày đi đưa sữa cho Thuần Phi.
Hoàng hậu mỉm cười nghe xong mới nói: “Đừng nhắc đến nàng ta nữa. Trái lại hôm nay ngạch nương nàng đã dâng sớ vào, nói sức khỏe đã bình phục, muốn vào cung thỉnh an nàng, bản cung đã chuẩn bị cho bà ấy và muội muội nàng ngày mai vào Viên Minh Viên.”
Mắt Cao Tĩnh Thư sáng lên: “Đa tạ nương nương.”
Hai người còn chưa kịp nói thêm gì thì nghe bên ngoài báo Hoàng thượng giá lâm.
Hoàng thượng không đi một mình, theo sau ngoài Lý Ngọc còn có bốn thái giám Phúc, Lộc, Thọ, Hỷ, mỗi người xách hai chiếc đèn lồng hoa bằng lưu ly.
Trên thân đèn lưu ly trong suốt như pha lê là những cành hoa sống động như thật, như thể hoa lá đang vươn ra từ trong đèn vậy.
“Năm nay tại Ngự Diêu Xưởng, Đường Anh nung được tổng cộng mười hai đôi đèn hoa, chỉ có bốn đôi này là tuyệt mỹ, số còn lại ít nhiều đều có chút tì vết, hoặc là màu bị lem, hoặc là hình dáng cành hoa cứng nhắc. Trẫm đều không ưng ý nên không mang tới cho các nàng xem, đúng lúc Hoằng Trú ở bên cạnh nói hắn không chê, muốn mang ra ngoài khoe khoang, thế là hắn nẫng mất tám đôi kia rồi.”
Lời Hoàng thượng tuy có vẻ trách móc Hòa Thân vương nghịch ngợm nhưng sắc mặt lại rạng rỡ nụ cười.
Ung Chính gia con cái đơn bạc, lại còn từng lạnh lùng đem nhi tử đi làm con nuôi nhà người khác (Hoằng Chiêm), nghiêm trọng hơn là tước bỏ hoàng tịch (Hoằng Thời), nên đệ đệ chính thống duy nhất còn sót lại của Hoàng thượng lúc này là Hòa Thân vương Hoằng Trú.
Hòa Thân vương là người có tính cách phóng túng, ngông cuồng, hay gây chuyện ở kinh thành nhưng Hoàng thượng cũng chẳng chấp nhặt. Có một người đệ đệ như vậy mới càng làm nổi bật ngài là một vị minh quân thánh đức. Hơn nữa thỉnh thoảng dung túng cho lỗi lầm nhỏ của hoàng đệ còn có thể thể hiện tình cảm hiếu đễ của mình.
Hoàng hậu hiểu thấu tâm tư của Hoàng thượng, cười dịu hiền: “Hòa Thân vương vốn tính tình trẻ con như vậy, cũng nhờ Hoàng thượng đối đãi thân thiết nên đệ ấy mới tự nhiên thoải mái trước mặt ngài.”
Sau đó nàng lại khen bốn đôi đèn hoa này: “Quý ở chỗ kiểu dáng tinh xảo, hiếm thấy hoa không bị bó hẹp trong đèn mà cành lá vươn dài ra, đợi thắp nến lên chắc chắn sẽ rất đẹp.”
Hoàng thượng nói chuyện với Hoàng hậu xưa nay cảm thấy rất nhẹ lòng, dường như từng câu chữ đều ăn khớp với nhau, liền gật đầu: “Đôi mẫu đơn này đương nhiên để lại cho nàng.”
Sau đó ngài quay sang Cao Tĩnh Thư cười nói: “Có phần của nàng đây, những đôi còn lại Quý phi cứ chọn trước đi.”
Ba đôi còn lại là hoa phù dung, hoa mai và hoa thược dược.
Cao Tĩnh Thư chỉ vào hoa phù dung: “Cái này ạ.” Rồi lại chỉ vào hoa thược dược: “Hòa Kính Công chúa thích hoa thược dược.”
Hoàng thượng vỗ tay cười: “Nàng thật biết cách phân chia thay trẫm, trẫm đã cho làm hai đôi đèn thỏ ngọc cho Hòa Kính rồi.” Ý là những chiếc đèn hoa này là để ban cho các phi tần chủ vị.
Cao Tĩnh Thư nhất thời không hiểu ý ngài: “Công chúa mười ba tuổi rồi mà Hoàng thượng vẫn tặng đèn thỏ nhỏ cho nàng sao.”
Hoàng thượng khẽ thở dài: “Phải rồi, thoắt cái Hòa Kính đã đến tuổi có thể gả chồng.”
Thấy Hoàng hậu hiếm khi lộ vẻ căng thẳng, Hoàng thượng liền an ủi: “Trẫm chỉ có một mụn con gái này, đương nhiên muốn giữ nó bên cạnh thêm vài năm. Từ thời Thánh Tổ gia, các Công chúa trong cung đều gả muộn, giữ đến năm hai mươi tuổi cũng là chuyện thường.”
Hoàng hậu bấy giờ mới thở phào nhẹ nhõm.
Hoàng thượng liền chỉ vào đôi đèn thược dược nói: “Nếu Quý phi đã nói vậy, trẫm cũng không thể hẹp hòi, đôi đèn thược dược này cứ để cho Hòa Kính chơi đi.”
Hoàng hậu mỉm cười: “Thần thiếp thay mặt Hòa Kính tạ ơn Hoàng thượng, chỉ là sáng sớm nay Đại A ca đã đến tìm Hòa Kính cùng đi cưỡi ngựa rồi, đợi con bé về thần thiếp sẽ bảo nó đến Cửu Châu Thanh Yến tạ ơn Hoàng thượng.”
Hoàng thượng khẽ nhíu mày, rất khó nhận ra.
Sinh mẫu của Đại A ca Hoằng Thời đã qua đời trước khi Hoàng thượng lên ngôi, được truy phong làm Triết Phi.
Tuy là thứ tử nhưng Hoằng Thời rốt cuộc là hoàng trưởng tử, lễ giáo chính thống xưa nay là “vô đích lập trưởng”, người Mãn nhập quan lâu ngày cũng khó tránh khỏi học theo lễ giáo của người Hán.
Vì thế Hoàng thượng đối với hoàng trưởng tử này tuy không lộ ra ngoài nhưng thực chất thâm tâm rất coi trọng.
Trong lòng ngài đặt tiêu chuẩn cho Hoằng Thời khắt khe hơn các A ca khác, lúc này nghe thấy vậy liền không vui. Trước Tết ngài có khảo Hoằng Thời một bài luận, Hoằng Thời làm rất bình thường. Lúc này không lo chăm chỉ học hành gấp bội, vậy mà vừa đến Viên Minh Viên đã vội dắt muội muội đi cưỡi ngựa rong chơi, bê trễ thế này sao làm nên chuyện!
Trong lòng ngài thầm ghi lại một món nợ, đợi qua Tết Nguyên tiêu nhất định phải gọi sư phụ của các A ca tới để răn đe một phen.
Nhưng ngoài mặt ngài không hề lộ ra ý tứ đó.
Hoàng thượng lên ngôi nhiều năm, sớm đã luyện được vẻ mặt điềm tĩnh trước mọi sóng gió. Đem tâm tình không vui đó xoay vần một lượt trong lòng, ngài lại thản nhiên thu liễm lại như không có gì.
Thậm chí thấy Quý phi đầy hứng thú ngắm nhìn đôi đèn hoa mai, ngài còn cười nói: “Cành hồng mai trong tuyết này nung cũng rất đẹp, hiếm thấy có được phong thái thanh cao thoát tục, trẫm cứ ngỡ nàng sẽ thích đôi đèn này chứ.”
Cao Tĩnh Thư nghiêng đầu ngắm nghía: “Hoa mai trong tuyết, thanh khiết lạnh lùng, Hoàng hậu nương nương, người thấy hình ảnh này có giống Nhàn Phi không?”
Hoàng hậu nhìn kỹ một lúc, nụ cười trên môi càng sâu hơn:
“Cành mai ngạo tuyết này tuy có phong cốt nhưng rốt cuộc vẫn mang vẻ đẹp dịu dàng mảnh dẻ của loài hoa, còn con người Nhàn Phi, không giống hoa, mà giống một thanh bảo kiếm cắm dưới gốc mai trong tuyết hơn.” Ánh thép lạnh lẽo sắc bén, cứng cỏi không thể bẻ gãy.
Cao Tĩnh Thư vỗ tay cười: “Nương nương ví von thật chuẩn.”
Thấy câu chuyện đã dẫn tới đây mà Hoàng thượng vẫn chỉ mỉm cười, không hề nhắc đến việc tặng đôi đèn này cho Nhàn Phi, Hoàng hậu không khỏi khẽ thở dài.
Nhàn Phi có một vẻ đẹp anh dũng sảng khoái, tuy không đúng kiểu dịu dàng nhu thuận mà Hoàng thượng thích nhưng đẹp vẫn là đẹp, ban đầu Hoàng thượng vốn cũng rất biết thưởng thức.
Nhàn Phi vào tiềm để chưa đầy nửa năm thì Hoàng thượng đăng cơ, vì Nhàn Phi xuất thân từ một trong những đại tộc Mãn Châu, lại là Trắc phúc tấn đích thân Tiên đế ban cho, dù Hoàng thượng không ban vị Quý phi nhưng cũng phong làm Phi, lại ban cho ở Dực Khôn cung, đủ thấy coi trọng phẩm cách và khí chất của nàng.
Ban đầu Nhàn Phi cũng khá được lòng Hoàng thượng.
Nhưng Nhàn Phi và Hoàng thượng dường như luôn thiếu đi một chút duyên phận, cách nói chuyện của hai người giống như quân thần đối đáp, chẳng có chút thân mật nào, hơn nữa tính tình Nhàn Phi cứng nhắc, đừng nói là không biết làm nũng, ngay cả lúc nói chuyện bình thường cũng như thể đang dâng sớ can gián, lời lẽ ngay thẳng sắc bén, nghe chẳng khác nào một Ngự sử đại thần, khí thế cứng cỏi như bậc nam nhi gang thép.
Người không biết lại tưởng nàng và Hoàng thượng là Ngụy Trưng và Đường Thái Tông đấy.
Hoàng thượng dần dần cũng cảm thấy nhạt nhẽo.
Nhàn Phi vốn là người không thích tranh sủng, Hoàng thượng lạnh nhạt với nàng, hành xử của nàng lại càng thêm cương trực tự trọng.
Có một năm Hoàng thượng ở chỗ nàng uống thêm vài ly rượu, sáng hôm sau tỉnh dậy thuận miệng trêu một câu rằng: trẫm ở chỗ nàng hiếm khi phá lệ một lần, suýt chút nữa làm lỡ cả buổi triều sớm.
Vốn chỉ là lời trêu đùa, ai ngờ Nhàn Phi lập tức quỳ xuống thỉnh tội, nói thần thiếp không ngăn cản Hoàng thượng uống rượu, làm hỏng quy củ, thần thiếp có tội.
Nhàn phi còn tự phạt ba tháng bổng lộc, lập tức khiến Hoàng thượng á khẩu không biết nói gì, chỉ có thể tự mình mất hứng, còn chạy tới chỗ Hoàng hậu phàn nàn một trận.
Kể từ đó, Hoàng thượng đến chỗ Nhàn Phi càng ít đi.
Trái lại Thái hậu cực kỳ thích tính tình trọng lễ nghĩa và điềm tĩnh vững vàng của Nhàn Phi, đặc biệt cho nàng thể diện. Nhàn Phi dứt khoát cứ theo nhịp độ của mình mà sống, ân sủng đối với nàng dường như chẳng mấy quan trọng.
Cao Tĩnh Thư không biết Hoàng thượng từng bị Nhàn Phi đem quy củ ra chặn họng, lúc này còn ngẩng mặt hỏi:
“Hoàng thượng, đôi đèn này không tặng cho Nhàn Phi sao? người khác e là không xứng với hoa mai ngạo tuyết này đâu.”
Hoàng hậu không kịp ngăn cản, may mà Hoàng thượng cũng không giận Quý phi, chỉ chỉ vào nhành mai trên đèn:
“Hoa mai ngạo tuyết, công chúa của trẫm cũng nên có khí phách đó, thôi thì đưa hết cho Hòa Kính đi.”
Thế là tâm trạng vui vẻ của Gia Phi sau khi hãm hại Thuần Phi đã tan biến hoàn toàn sau ngày mùng Mười hai tháng Giêng.
Bốn đôi đèn hoa, ba đôi ở chỗ mẹ con Hoàng hậu, một đôi ở chỗ Quý phi, nàng là một vị Phi đi theo đến Viên Minh Viên mà cảm thấy mất mặt vô cùng.
Gia Phi than phiền với cung nữ tâm phúc Tử Vân:
“Hoàng thượng thật là thiên vị quá mức! Trong mắt ngài ngoài Hoàng hậu và Quý phi ra còn có ai nữa không? Thuần Phi không đi theo đến Viên Minh Viên, bốn đôi đèn này vốn dĩ Hoàng hậu, Quý phi, Nhàn Phi và ta mỗi người một đôi mới phải, hoặc chỉ cho mình Hoàng hậu thôi cũng được, chúng ta phận thiếp thất không dám tranh, nhưng tại sao lại cứ phải đưa cho Quý phi!”
Mở lời một cái là không dừng lại được: “Còn cả tiệc trà Trùng Hoa điện nữa, tổng cộng mười tám chỗ ngồi, vậy mà Phú Sát thị lại có tới hai người góp mặt. Bá phụ của Hoàng hậu là nguyên lão tam triều, đức cao trọng vọng thì đã đành, nhưng đệ đệ Hoàng hậu là Phó Hằng mới bao nhiêu tuổi? Mới ngoài hai mươi đã làm Thống lĩnh Đại thần Ngự tiền thị vệ ự không nói, lại còn được cùng các vị Đại học sĩ dự tiệc trà Trùng Hoa điện! Hoàng thượng đúng là thiên vị đến tận xương rồi!”
“Lại còn Cao gia nữa…”
Nói đi cũng phải nói lại, Gia Phi còn hận Cao gia hơn, vì Kim thị của nàng và Cao gia đều xuất thân là Bao y Nội Vụ Phủ, Hoàng thượng vừa lên ngôi là Cao gia được nâng kỳ, còn nàng đã sinh được một A ca mà Kim thị vẫn dậm chân tại chỗ.
Thế nên nhìn Cao gia được nâng kỳ, nàng đố kỵ đến phát điên.
Tử Vân vội khuyên nhủ: “Nương nương hãy nhìn về sau ấy ạ, người dù sao cũng có Tứ A ca. Hoàng hậu nương nương sinh được đích tử mà không giữ được, chỉ có mỗi một công chúa bên mình, Quý phi thì chưa bao giờ sinh nở, ngày tháng khổ sở còn ở phía sau.”
Gia Phi xua tay nói: “Thôi đi, ngươi không cần dùng mấy lời vô nghĩa đó để khuyên ta, ta đâu có ngu ngốc như Thuần Phi? Chuyện chưa đâu vào đâu đã xông ra làm chim đầu đàn đối đầu với Quý phi, khiến Hoàng thượng không vui thế này. Thuần Phi lần này coi như sinh A ca công cốc, chẳng được chút thể diện nào. Bản cung không làm chuyện ngu ngốc đó.”
Nhưng hễ nhắc đến nhi tử của mình, sắc mặt Gia Phi cũng dịu hơn, cuối cùng cũng có chút an ủi.
Tuy nhiên sự dịu đi đó chỉ kéo dài được ba ngày, rồi lại chuyển từ nắng sang mây rồi đến mưa rào bão táp.
Đêm rằm tháng Giêng, Hoàng thượng sau khi dự tiệc ở tiền triều đã quay về hậu cung cùng Hoàng hậu phụng dưỡng Thái hậu đến Sơn Cao Thủy Trường xem pháo hoa.
Cả cung cùng chung vui hòa hợp.
Tuy nhiên, sáng sớm ngày mười sáu tháng Giêng, Hoàng thượng bỗng trở mặt, quở trách toàn bộ những người hầu cận bên các A ca, từ sư phụ dạy chữ Hán, các a đạt dạy tiếng Mãn cho đến thư đồng bồi đọc, cùng nhũ mẫu chăm lo sinh hoạt thường ngày. Đồng thời nghiêm khắc răn dạy các A ca phải chuyên tâm học hành, tuyệt đối không được buông thả ham chơi.
Thậm chí, ngài còn hạ lệnh không cho phép các A ca thường xuyên lui tới nơi ở của sinh mẫu.
Gia Phi vừa nghe tin này, cảm giác như bị sét đánh ngang tai, chưa bao giờ nàng đau lòng đến thế, chỉ biết trốn trong phòng khóc lóc:
“Hài tử ta mang thai mười tháng vất vả sinh ra, vừa đầy tháng đã bị bế đến Càn Đông ngũ sở. Nếu không có ân chỉ của Hoàng thượng, mười ngày mới được gặp một lần, mà mỗi lần cũng chỉ vỏn vẹn một canh giờ.”
Nàng đưa bàn tay ra: “Ngày nào ta cũng bấm đốt ngón tay mong chờ đến sinh thần của nó, rồi sinh thần của ta, tiết Đông chí, ngày Tết, lễ Vạn thọ, chỉ những ngày đó nó mới được về cung của ta ở lại một ngày.”
“Vốn dĩ Hoàng thượng không quá khắt khe, nếu bản cung cầu xin một chút, mỗi tháng cũng có thể gặp Tứ A ca thêm hai lần. Vậy mà giờ đây, Hoàng thượng muốn siết chặt việc học hành của các con, chỉ cho phép sinh mẫu gặp mặt vào ngày mùng một và mười lăm hàng tháng! Ta sinh ra nó, chẳng lẽ tình mẫu tử lại mỏng manh đến thế sao!”
Tiểu cung nữ sợ hãi vội che miệng nàng lại: “Nương nương, những lời oán thán này tuyệt đối không được nói ra. Huống hồ Hoàng thượng vì kỳ vọng cao vào các A ca nên mới lệnh cùng nuôi dưỡng ở A Ca Sở, mọi việc học hành đều do đích thân Hoàng thượng sắp xếp người dạy bảo. Nếu như thời Thánh Tổ gia, con đầu lòng của phi tần đều phải đưa đến chỗ những chủ vị có địa vị cao hơn để nuôi dưỡng, chẳng phải tình mẫu tử còn nhạt nhẽo hơn sao.”
Người trong cung ai cũng biết, quan hệ giữa Hiếu Cung Nhân Thái hậu và Ung Chính gia lạnh nhạt như thế, đều là do Ung Chính gia từ nhỏ đã nhận người khác làm mẹ, không lớn lên dưới gối Đức Phi, mà lại trưởng thành bên cạnh Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu.
Gia Phi bấy giờ mới ngừng nước mắt. Đúng vậy, con trai có tiền đồ là quan trọng nhất. Huống hồ được đích thân Hoàng thượng quản giáo, vẫn tốt hơn là trở thành con của người khác.
Gia pháp triều đại này, tuy không tàn nhẫn đến mức phi tần không có con phải tuẫn táng như tiền triều, nhưng lại có một kiểu tàn khốc khác.
Nữ tử hậu cung một khi sinh hạ hoàng tử hay công chúa, đa phần sẽ theo chỉ dụ của Hoàng thượng mà giao cho phi tần địa vị cao nuôi dưỡng; hoặc như đương kim Hoàng đế, để tránh tình mẫu tử quá sâu đậm, dẫn đến hậu cung và tiền triều sau này cấu kết với nhau, tái hiện thảm cảnh “Cửu long đoạt đích”, các hoàng tử và công chúa vừa sinh ra đều thống nhất giao cho các ma ma ở A Ca Sở chăm sóc.
Nói trắng ra chính là bắt sinh mẫu phải chia cắt với con mình.
Cao Tĩnh Thư nghe xong cũng cảm thấy chạnh lòng thay cho họ.
Biết Thuần Phi sau khi đầy tháng cũng phải tiễn con đi, nàng chẳng hề lấy đó làm niềm vui trên nỗi đau của người khác.
Cùng là phận nữ nhi, nàng có thể hình dung được, việc mang đứa trẻ rời xa người mẹ thực sự là nỗi đau thấu tận tâm can nhất trên đời này.
Kha ma ma thấy nàng nghe chuyện xong thì ngồi thẩn thờ ưu tư, cứ ngỡ Quý phi đang đau buồn vì bản thân cô quạnh, chưa có lấy một mụn con. Thế là bà bèn cho mọi người lui ra, tiến lên khuyên nhủ:
“Trước đây nương nương tâm trí không mở mang, thân thể ngày một yếu nhược, tự nhiên thai khí khó lòng hội tụ. Nay nương nương đã nới lỏng tâm tình, lại có quốc thủ như Lâm thái y tận tình điều trị, còn lo gì sau này không có con? Theo lão nô biết, đừng nói nương nương còn chưa đầy ba mươi, ngay cả những phụ nhân ba bốn mươi tuổi có con cũng đầy rẫy ra đó. Ví như ngạch nương của chủ tử, Cao phu nhân chính là người có phúc đủ cả trai lẫn gái, Nhị tiểu thư chẳng phải là ấu nữ do phu nhân sinh ra năm ba mươi sáu tuổi đó sao.”
Cao Tĩnh Thư thầm nghĩ, nói về kiến thức sản phụ khoa thì ma ma quả là đang múa rìu qua mắt thợ rồi.
Kha ma ma thấy nàng vẫn giữ im lặng, càng ra sức khuyên giải:
“Gia Phi nương nương sinh con năm hai mươi sáu tuổi, Du Tần nương nương đến hai mươi bảy tuổi mới có Ngũ A ca, Thuần Phi nương nương thậm chí còn lớn hơn người hai tuổi, chẳng phải cũng vừa hạ sinh Lục A ca đó sao. Vậy nên tuổi tác của người sinh con không thành vấn đề, chỉ là đừng quá nôn nóng thôi.”
Cao Tĩnh Thư ngẩn ra, không nhịn được nói: “Phải rồi, trong số phi tần hậu cung của Hoàng thượng, người sinh con muộn quả là nhiều thật.”
Hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi, ở hiện đại là độ tuổi kết hôn sinh con phù hợp, nhưng ở cổ đại thì đích thị là sinh muộn rồi. Gia Phi và Du Tần thế mà đều hầu hạ gần mười năm mới có thai lần đầu.
Gương mặt lạnh như Diêm Vương của Kha ma ma chợt lộ ra vẻ bí hiểm, bà ghé sát lại gần hơn. Kha ma ma hiểu rõ khi đối diện với Quý phi thì không nên nói vòng vo, nếu không nàng sẽ hiểu sai ý ngay, thế là bà nói thẳng:
“Nô tỳ hầu hạ ở Dưỡng Tâm điện từ thời Tiên đế, nam nhân mà, ai cũng có sở thích riêng, Hoàng thượng của chúng ta thực ra không quá mặn mà với những cô nương trẻ tuổi.”
Cao Tĩnh Thư kinh ngạc nhìn bà: Lại nữa rồi, lại nữa rồi! “Cố vấn tình trường” Kha ma ma lại xuất hiện rồi!
Kha ma ma nói đến khô cả cổ, Cao Tĩnh Thư còn đích thân đưa cho bà một quả quýt tiến cống. Kể từ sau sự cố cam mật lần trước, Hoàng thượng không chỉ ban thêm cho nàng hai đĩa cam mật, mà Nội Vụ Phủ cũng thấu hiểu đạo lý “ngã ở đâu đứng dậy ở đó”, điên cuồng gửi quýt đến cho Quý phi, thành ra hoa quả chỗ Cao Tĩnh Thư nhiều đến mức tràn lan.
Ma ma thấy Quý phi tự tay đưa quýt cho mình, trong lòng có chút cảm động, thế là bà kể lại càng chi tiết hơn, thậm chí còn khoa tay múa chân miêu tả, khiến Cao Tĩnh Thư nghe mà thán phục không thôi.
Dẫu sao nàng cũng xuất thân ngành y, thực ra nhiều kiến thức sinh lý nàng đều hiểu rõ. Sở dĩ nàng nghe say sưa đến vậy là vì muốn xem những “chuyện thầm kín” của người xưa có thể đạt đến trình độ nào.
Ai ngờ càng nghe càng đỏ mặt tía tai, nàng sai rồi, nàng vẫn còn nông cạn lắm. Về phương diện này, cổ nhân tuyệt đối có những kiến giải độc đáo của riêng mình.
Mãi cho đến khi Lâm thái y tới thỉnh bình an mạch, Kha ma ma mới tiếc nuối mà tạm dừng.
Vì thái y là nam giới, mà Lâm thái y lại còn là một nam tử có tướng mạo khôi ngô, nên mỗi lần thái y đến thỉnh mạch đều phải ở chính sảnh, cửa chính cửa sổ mở rộng, cung nhân trong sân dù không nghe thấy Lâm thái y nói gì nhưng nhất định phải nhìn rõ mọi cử động của ông mới được.
Cao Tĩnh Thư tiếc nuối nghĩ, quả nhiên khác xa với phim truyền hình, muốn tặng cho Hoàng thượng một chiếc “mũ xanh” quả thực là nan giải vô cùng.
(*) Đội mũ xanh: cắm sừng
Thái y đã có người canh chừng, còn thị vệ thì khỏi phải nói, không bao giờ được hành động đơn độc. Ngay cả Phó Hằng, mỗi lần phụng mệnh đến Trường Xuân cung bái kiến tỷ tỷ ruột là Hoàng hậu, cũng đều có công công đi kèm bên cạnh.
Càng đừng nói là cung tần bình thường, muốn đội một chiếc mũ xanh lên đầu Hoàng thượng, thực sự là khó hơn lên trời.
Lúc này có Kha ma ma ở đây lại càng đường hoàng hơn, bà vốn là người bên cạnh Hoàng thượng, một mình bà đứng đó là đủ rồi.
Cao Tĩnh Thư gần đây quả thực có chút không khỏe: “Lâm thái y, có lẽ là đêm Nguyên tiêu mải ngắm pháo hoa và đèn lồng nên ngủ muộn, hai ngày nay ta cứ thấy tức ngực hụt hơi.”
Lâm thái y bắt mạch xong, trên gương mặt mang phong thái thanh cao thoát tục hiện lên một nụ cười, ông cúi người nói: “Nương nương sau khi tâm tư khoáng đạt, thân thể quả nhiên đã chuyển biến tốt hơn nhiều. Chỉ là nương nương từ nhỏ đã không được cường kiện, vẫn nên khéo léo bồi bổ mới tốt.”
Cao Tĩnh Thư thầm nghĩ, lượng vận động của quý nữ cổ đại chỉ có bấy nhiêu, ai mà cường kiện cho nổi.
Thế là nàng hỏi: “Vậy bản cung hàng ngày đi dạo nhiều hơn liệu có ích gì không?”
“Tự nhiên là có rồi, nương nương hoạt động nhiều thêm một chút còn tốt hơn cả uống thuốc ấy chứ.”
Có được lời vàng ý ngọc của thái y, Cao Tĩnh Thư dự định sau khi sang xuân sẽ tăng cường vận động.
Đúng lúc Mộc Cẩn vào phòng bẩm báo, có hai cung nữ tự ý ra ngoài, vi phạm quy định. Sắc mặt Kha ma ma lập tức thay đổi, sát khí đùng đùng xông ra ngoài, loạn hết rồi, dám cả gan làm loạn ngay dưới mí mắt bà!
Trong phòng chỉ còn lại Mộc Cẩn đứng hầu bên cạnh.
Nàng nói với Cao Tĩnh Thư: “Sáng nay nô tỳ đã phát hiện hai cung nữ đó lén lút, giờ mới nói là để tạo cơ hội cho Lâm thái y chuyển lời dặn dò của lão gia tới nương nương.”
Trên đường đi mời Lâm thái y, Lâm thái y đã nhờ Mộc Cẩn tạo ra một không gian riêng tư để nói chuyện.
“Mạch tượng của nương nương trầm sác ở thốn bên trái, cho thấy tâm hỏa hư thăng vượng thịnh, lại có triệu chứng khí trệ huyết hư. Thế nên nương nương thường xuyên hụt hơi yếu sức, tay chân lạnh ngắt. Thần ở đây có một phương thuốc tốt hơn, chỉ là…”
Cao Tĩnh Thư hỏi: “Sao vậy? Dược liệu khó tìm lắm sao? Chẳng lẽ bệnh của ta cần đến nhân sâm ngàn năm, tuyết liên cực địa hay những thứ trân phẩm đại loại vậy sao?”
Nàng tức thì não nề tưởng tượng ra tình tiết trong cung chỉ có một đóa tuyết liên, nếu Hoàng thượng không sắp băng hà thì không được dùng, rồi cứ thế hỏi ra miệng.
“Không, không phải vậy. Thái y viện quy tụ dược liệu khắp thiên hạ, huống hồ nương nương thân phận cao quý, không có dược liệu nào là không thể dùng.”
Lâm thái y có chút bất lực: “Dẫu có là dược liệu cực kỳ hiếm lạ trên đời, trái lại càng không thể tùy tiện dùng cho quý nhân.”
Khi chưa qua thử nghiệm, dù công hiệu có được tán tụng lên tận trời xanh, ai dám đem đóa Thiên sơn tuyết liên duy nhất trên đời nhét vào miệng Hoàng đế chứ.
Hoàng đế mà rụng một sợi lông mi, cả nhà thái y đều đầu rơi máu chảy.
Vậy nên Thái y viện vạn sự đều cầu ổn thỏa.
Lâm thái y vội vàng kéo chủ đề bị Quý phi làm chệch hướng trở lại quỹ đạo: “Là có mấy vị thuốc bị xung khắc với thuốc cầu tự mà nương nương đang dùng.”
“Ta vẫn đang uống thuốc cầu tự sao?!”
Cao Tĩnh Thư sửng sốt, dạo này nàng ăn uống nhiều loại dược thiện, thực sự không biết trong đó có một vị là thuốc cầu tự.
Lâm thái y cũng ngẩn người: “Nương nương lâu ngày không có con, từ ba năm trước đã bẩm báo Hoàng thượng, lệnh cho chúng thần ở Thái y viện thay phiên bắt mạch, sau đó do Hạ viện chính cùng vi thần cân nhắc kê đơn, người đã uống hơn hai năm nay rồi.”
Sắc mặt Cao Tĩnh Thư trầm xuống: “Nhưng giờ ta đã mang bệnh trong người, đương nhiên trị bệnh là quan trọng nhất, còn uống thuốc cầu tự làm gì nữa.”
Lâm thái y và Mộc Cẩn: “…”
Chuyện này không giống với những gì họ tưởng tượng!
Lâm thái y biết rõ mong mỏi có con của Quý phi, thậm chí hai năm nay thân thể ngày càng sa sút cũng một phần là vì một lòng cầu con mà chẳng được nên tâm trạng u uất.
Thế nên lần này, Lâm thái y vốn định cùng Mộc Cẩn khuyên bảo Quý phi thật kỹ, tạm dừng thuốc cầu tự một thời gian cũng không sao, còn rừng xanh lo gì thiếu củi đốt, phải dưỡng thân thể thật khỏe mạnh mới sinh được hoàng tử khỏe mạnh… những lời như vậy ông đã chuẩn bị sẵn cả rổ.
Ai ngờ bây giờ Quý phi lại nổi giận trước, trách ông sao không dừng thuốc cầu tự lại.
Vì bị Quý phi cướp lời dẫn đến không còn gì để nói, Lâm thái y chỉ biết cúi người thỉnh tội.
Cao Tĩnh Thư lúc này đã hiểu ra vấn đề, không khỏi cười khổ thay cho Quý phi trước kia. Thân thể yếu ớt thế này, dẫu có liều mạng mang thai sinh con thì đứa trẻ sao có thể khỏe mạnh, bản thân nàng e là cũng phải tổn thọ mất nhiều năm.
Nàng lắc đầu nói: “Lâm thái y xin miễn lễ, là ta nóng nảy rồi. Cứ theo phương thuốc mới của ông đi, ta nghĩ cần phải dưỡng khỏe thân thể trước rồi mới bàn đến chuyện con cái.”
Lâm thái y chẳng hề bận tâm đến thái độ của Quý phi, ngược lại còn thấy nhẹ lòng vô cùng. Quý phi chịu nghĩ như vậy, chắc hẳn là đám nhang đèn ông thắp khắp nơi cuối cùng cũng bắt đầu linh ứng rồi!
Nếu Quý phi biết nổi giận vì thân thể mình sớm hơn một chút thì đâu đến nông nỗi như ngày hôm nay.
Thế là ông vui vẻ lui xuống đi bốc thuốc.
Sau khi Lâm thái y cáo lui, Mộc Cẩn tiến lên thay trà, trong mắt chứa đựng nỗi lo âu sâu sắc: “Nương nương, người thật sự không muốn có con với Hoàng thượng nữa sao?”
Nàng biết trước kia nương nương khao khát có một hài tử đến nhường nào.
Mộc Cẩn rất vui khi thấy nương nương không còn bị tình sâu nghĩa nặng che mờ lý trí, nhưng cũng không hy vọng Quý phi vì sửa sai quá mức mà ngay cả con cái cũng không cần nữa.
Cao Tĩnh Thư trầm mặc nói: “Sinh nhi tử xong liền bị bế đi, một năm gặp nhau chẳng được mấy lần. Sinh ữ nhi thì được gặp nhiều hơn chút, nhưng nuôi đến mười mấy tuổi là phải gả đi hòa thân. Thay vì cuối cùng phải đứt từng đoạn ruột, chẳng thà đừng có còn hơn.”
Người khác không biết nhưng nàng lại biết rõ, ngay cả Cố Luân Hòa Kính Công chúa cuối cùng cũng không tránh khỏi số phận hòa thân Mông Cổ, huống hồ là các Công chúa khác. Dẫu có may mắn được gả ở kinh thành như Ôn Hiến Công chúa, muội muội ruột của Ung Chính gia, cũng mới hai mươi lăm tuổi đã hương tiêu ngọc nát.
Công chúa nhà Thanh thực sự là những nàng công chúa có số phận truân chuyên nhất.
Vì thế Cao Tĩnh Thư mới đối đãi tốt với Hòa Kính, đặc biệt nhường nhịn cô bé. Nàng biết dù là kim chi ngọc diệp thì tương lai cũng phải chịu nỗi khổ hòa thân, nhân lúc còn ở trong cung, cứ để cô bé được vui vẻ là trên hết.
Thấy Mộc Cẩn định khuyên tiếp, Cao Tĩnh Thư bèn nói: “Cũng chẳng phải uống thuốc tuyệt tự, chỉ là điều dưỡng thân thể ta trước thôi, ngày sau có thai hay không cứ thuận theo ý trời vậy.”
Cao Tĩnh Thư sầu muộn vì đứa con còn chưa tồn tại, còn Cao Bân thì lại sầu muộn vì đứa con gái Quý phi đang hiện hữu.
Ông lăn lộn trên chốn quan trường nhiều năm, trước sau vẫn không làm mất lòng quân vương, chứng tỏ ngoài sự quyết đoán tiến thủ, ông còn không thiếu phần cẩn trọng dè dặt.
Thế nên suốt chín năm qua, ông rất hiếm khi trực tiếp gặp mặt Quý phi, đa phần đều thông qua thê tử và ấu nữ để truyền đạt suy nghĩ của mình. Nhưng cuối năm ngoái liên tục truyền ra tin Quý phi kháng chỉ suýt thất sủng, rồi lại lâm trọng bệnh tưởng không qua khỏi, Cao Bân thực sự muốn đích thân gặp mặt trưởng nữ một lần.
Đặc biệt là sau khi ấu nữ về nhà kể lại phản ứng của tỷ tỷ đối với việc Cao thị muốn đưa thêm nữ nhi vào cung, Cao Bân cảm thấy trưởng nữ Quý phi này dường như vẫn còn có thể “cứu vãn” được.
Hoàng thượng đã sớm chuẩn y, đến Viên Minh Viên sẽ cho phép Cao Tĩnh Thư gặp mặt phụ thân một lần.
Cao Tĩnh Thư nhìn vị phụ thân “hờ” trước mắt.
Chỉ thấy ông gương mặt thanh tú, ngũ quan ngay ngắn, trông qua thấy toát lên vẻ thanh nhã cương nghị, phong thái hiên ngang, trên người lại mang theo khí độ thản nhiên nhưng không kém phần uy nghiêm vốn chỉ có ở những người ngồi ở vị trí cao trong triều đình nhiều năm.
Nàng không khỏi nhớ lại lộ trình thăng tiến của vị phụ thân “hờ” này, trong thời gian Ung Chính gia tại vị, chỉ trong vỏn vẹn năm năm, Cao Bân từ Tô Châu Chức tạo thăng lên Quảng Đông Bố chính sứ, sau đó điều làm Phó Tổng hà ba tỉnh Chiết Giang, Giang Tô, Hà Nam, kiêm quản muối vụ Lưỡng Hoài, toàn là những chức vụ thực quyền màu mỡ, không phải tâm phúc của thiên tử thì không thể đảm đương. Đến khi Hoàng thượng lên ngôi, ông lại nhảy vọt lên vị trí nhất phẩm đại viên là Tổng đốc Giang Nam.
Đó là một bản lý lịch ưu tú đến mức đáng sợ.
Vì thế Cao Tĩnh Thư bất giác nảy sinh lòng kính sợ vô cùng.
Cao Bân trước tiên hành lễ thần tử với Quý phi. Sau khi tạ ơn ban tọa, ông mới ngồi xuống chiếc ghế gấm phía dưới, rồi bắt đầu hỏi vào việc chính.
“Thần từ cuối năm ngoái nghe tin Quý phi nương nương không khỏe, tình hình có vẻ khác xưa, cả Cao gia đều lo lắng không yên.”
Cao Tĩnh Thư khẽ nói: “A mã nếm thử trà mới Hoàng thượng ban thưởng xem.”
Cao Bân là người sành sỏi, nhìn trà này chắc chắn biết mùa đông năm nay tổng cộng chỉ tiến cống được vài cân, người có được lúc này chắc chắn là phi tần đang đắc sủng. Nghĩ vậy ông cũng biết Quý phi đã được sủng ái trở lại, phần nào cũng thấy an tâm.
Cao Bân thở dài, thấy trong phòng chỉ có Tử Đằng và Mộc Cẩn hầu hạ, giọng điệu liền chuyển từ thần tử sang một người cha:
“Từ khi con vào vương phủ hầu hạ Hoàng thượng đến nay, trước giờ luôn được thánh sủng ưu ái, có những lời a mã nói con đều không để lọt tai. Nay đã trải qua một lần sóng gió, mong rằng con có thể nghe vài lời can tâm tình cốt của ta.”
Cao Tĩnh Thư cũng không khỏi nghiêm túc lại, chân thành nói: “Mời a mã nói.”
Giọng nói của Cao Bân ôn hòa như gió xuân tháng Ba, dịu dàng không mang theo chút sức nặng nào, ông chậm rãi nói:
“Trong bốn đứa con cả trai lẫn gái, a mã luôn thương con nhất, bởi vì con… không có đầu óc.”
Cao Tĩnh Thư: “…”
Nàng hơi ngẩn người nhìn Cao Bân, thấy ông dùng giọng điệu của một người cha hiền từ để đưa ra lời nhận xét “ngốc nghếch” về mình.
Cao Bân vẫn giữ vẻ ôn tồn: “Nương nương vốn dĩ không nên làm Quý phi, năm đó nếu không phải bị chọn vào vương phủ, a mã nhất định sẽ tìm cho con một phu quân khoan hậu thuần lương, tính tình ôn hòa, gả vào một gia đình gia thế đơn giản, để a mã che chở cho con sống cả đời bình an.”
Ông thở dài thườn thượt, giọng điệu vừa lo lắng vừa tiếc nuối: “Nhưng số phận đưa nương nương vào cung, trời xanh chẳng có mắt, thế mà con lại còn được Hoàng thượng sủng ái.”
Cao Tĩnh Thư thề, nàng tuyệt đối nghe ra được sự khó tin trong lời nói của Cao Bân, cùng với hàm ý “chẳng biết Hoàng thượng mắt nhìn kém thế nào mới sủng ái loại người như nàng”.
Hai câu nói nhẹ tênh của Cao Bân khiến lục phủ ngũ tạng nàng tức đến đau thắt lại.
Cứ cho là hai tháng nay nàng đã tốn bao tâm tư để xây dựng uy phong trong cung, nhưng ngay cả Quý phi nguyên chủ dù tâm tính mềm yếu nhưng cũng là một nữ tử lương thiện đến ch.ế.t không hại ai. Nghe những lời khinh miệt này, Cao Tĩnh Thư không nhịn được vỗ bàn đứng dậy.
Thế là nàng lập tức đặt chén trà xuống hỏi: “Trong mắt a mã, lẽ nào khắp cả cung này chỉ mình con là kẻ ngốc?” Ta vừa mới giải quyết xong Thuần Phi đấy nhé.
Ai ngờ Cao Bân lại lộ ra nụ cười đầu tiên từ khi vào cửa, khóe mắt hiện lên những nếp nhăn li ti: “Thời gian gấp gáp, những lời tự hối lỗi thế này nương nương không cần nói thêm nữa.”
Cao Tĩnh Thư tới đây vài tháng, lần đầu tiên bị người ta làm cho á khẩu không nói được lời nào.
Nàng không khỏi trừng lớn mắt nhìn Cao Bân.
Cao Bân thấy nữ nhi giọng điệu dồn dập, mắt trừng như con thú nhỏ giận dữ, bèn thở dài:
“Cuối năm ngoái khi Dung nhi xuất cung có nói nương nương nay đã tiến bộ nhiều, nói năng hành sự có bài bản hơn, giờ xem ra vẫn cứ là cái tính nóng nảy, nghe gió bảo mưa như vậy.”
Trong giọng điệu của Cao Bân không có sự thất vọng, chỉ có vẻ thản nhiên như đã chấp nhận số phận từ lâu:
“Quả nhiên chuyện bỗng nhiên tỉnh ngộ, một sớm thông suốt chỉ là truyền thuyết mà thôi, không vận vào phàm nhân như chúng ta được.”
Cao Tĩnh Thư từ chối tiếp tục đối thoại với vị phụ thân này, chỉ thầm niệm trong lòng: Đừng giận, giận sinh bệnh không ai thay, đừng giận… Quả nhiên vẫn là tức ch.ế.t đi được!
Cao Bân cố ý buông vài lời khinh miệt nặng nề, thấy nữ nhi trước mắt dù khó giấu vẻ tức giận nhưng vẫn nhẫn nhịn không bộc phát, lại càng không vì mấy câu khó nghe này mà rơi nước mắt giận dỗi bỏ đi như mọi khi, đôi mắt ông chợt sáng lên, lẽ nào Dung nhi nói đúng, nương nương thực sự sau khi trải qua hoạn nạn đã thay đổi tính nết?
Đó quả thực là phúc đức vô lượng của gia tộc Cao thị!
Thế là ông càng quan sát Cao Tĩnh Thư kỹ hơn. Lúc này hai cha con một người ngẫm nghĩ, một người nén giận, trong phòng im lặng như tờ.
Tử Đằng suýt nữa thì ngất đi. Trời ạ, sao lão gia có thể nói nương nương như vậy, nương nương lại không ngay lập tức khóc đến ch.ế.t đi sống lại, lẽ nào là bị mắng đến ngốc luôn rồi! Trời ơi! Trời ơi!
Nhưng với tư cách là một hạ nhân trung thành, lúc này nàng không thể không đứng ra.
Nàng “bùm” một tiếng quỳ xuống trước mặt Cao Bân: “Lão gia đã hàm oan cho nương nương rồi, nương nương một lòng son sắt đặt nơi Hoàng thượng nên mới được ngài coi trọng. Còn kể từ sau trận ốm năm ngoái, nương nương đã thu lại tính nóng nảy ngày trước, đối với Hoàng hậu vô cùng cung kính chu đáo, lại còn xin Hoàng thượng cho ma ma bên cạnh tới giúp cai quản cung vụ, không còn phung phí tiền bạc, cũng không thân cận tiểu nhân nữa.”
Nói đoạn, Tử Đằng thay chủ tử uất ức mà khóc nấc lên. Lão gia nói cũng chẳng sai, tiểu thư vốn không phải hạng người thích hợp với tranh đấu chốn hậu cung. Nếu gả cho môn sinh của lão gia, nương nương vừa xinh đẹp vừa tính tình mềm mỏng, bên trên có cha mẹ chồng nâng niu không dám quản thúc, bên dưới phu quân có chí tiến thủ yêu chiều, ngày tháng đó chẳng biết sẽ vui vầy biết mấy! Còn tốt hơn vạn lần thảm cảnh năm ngoái suýt ch.ế.t bệnh mà không ai ngó ngàng, phải tự mình gượng dậy đi thỉnh tội, vừa khóc vừa quỳ mới giữ được mạng sống.
Tiếng khóc của Tử Đằng đã kéo hai cha con từ trong dòng suy nghĩ riêng tỉnh lại.
Cao Tĩnh Thư dù cũng thấy xót xa nhưng không rảnh để khóc, nàng chỉ muốn nói gì đó để khiến Cao Bân tin tưởng. Những ngày yên ổn của nàng trong cung không thể thiếu sự trợ giúp của phụ thân ở bên ngoài! Lần này nàng còn muốn thông qua tay ông để đưa thêm người đắc lực từ Nội Vụ Phủ vào, nếu ông coi thường nàng đến như vậy, đưa người đến không những không nghe lời mà còn giống như tổ tông canh chừng nàng, thà rằng không lấy còn hơn.
Trước khi nàng kịp mở lời, Cao Bân đã lên tiếng trước: “Thư nhi, vất vả cho con rồi, tính tình này xem như đã mài giũa được ba phần.”
Dường như xót xa cho sự trưởng thành của nữ nhi, hoặc giả cảm thấy bản thân không thể che chở cho nàng nhiều hơn, đôi mày ông thoáng hiện ba phần u ám.
Tuy nhiên, ngay khoảnh khắc ngẩng đầu lên, vẻ u ám đó đã hóa thành kiên nghị, thậm chí mang theo vài phần lạnh lùng, lộ ra tố chất của một chính trị gia lỗi lạc:
“Thư nhi, nếu giờ con đã hiểu ra, đó chính là phúc phận của gia tộc ta. Con đã là Quý phi, thì nên cùng phụ thân gánh vác sự hưng thịnh của gia tộc.”
Giống như Hoàng hậu đối với tộc Phú Sát thị vậy.
Tinh thần Cao Tĩnh Thư phấn chấn hẳn lên.
Cao Bân chịu nghiêm túc nói chuyện với nàng, đó là một điềm lành.
“Đương kim Hoàng đế đăng cơ đã là năm thứ chín, không còn là vị hoàng đế trẻ tuổi vừa mới lên ngôi, đối với đại thần phụ chính luôn cung kính lễ độ. Càng không phải Bảo Thân vương năm xưa không có người dùng, đối với hạng Bao y như a mã cũng luôn khách khí.”
Trên mặt Cao Bân lướt qua một tia giễu cợt: “Hoàng thượng vừa đăng cơ đã phong con làm Quý phi, cho Cao gia ta được nâng kỳ, ân sủng nồng hậu, lại giao cho a mã nhiều chức quan trọng yếu, để a mã làm Tổng đốc Giang Nam giám sát mọi việc phương Nam, đó là vì đế vị chưa vững. Khi đó, con ở hậu cung được sủng hay thất sủng thực ra không ảnh hưởng gì đến Cao gia, sự đắc sủng của con chỉ là tô điểm thêm hào quang cho nhà ta mà thôi.”
“Nhưng nay, đương kim đã là vị quân vương uy phục bốn phương.”
Dù biết xung quanh không có người, Cao Bân vẫn hạ giọng xuống mức thấp nhất: “Chín năm trước, Trương Đình Ngọc kiến giá, Hoàng thượng đều đứng dậy nghênh đón như đối đãi với ân thầy. Nhưng năm nay, Hoàng thượng lại công khai khiển trách Trương Đình Ngọc trì trệ chậm trễ, ỷ vào thâm niên mà kiêu ngạo.”
Lòng Cao Tĩnh Thư lạnh toát.
Nói ra chắc Cao Bân cũng không tin, nhưng thực ra nàng còn hiểu rõ hơn bất kỳ ai ở đây về sự độc đoán và không cho phép ai vượt quyền của Càn Long.
Đây mới chỉ là Càn Long năm thứ chín, trong tương lai, Càn Long sẽ càng trở thành một vị hoàng đế không dung thứ cho bất kỳ ai mạo phạm dù chỉ một mảy may. Tất cả những kẻ chạm vào “đường dây cao thế” quyền lực đế vương của ngài đều chỉ có con đường ch.ế.t.
Đến con ruột cũng có thể bị khiển trách đến ch.ế.t, huống hồ là thần tử.
Cao Bân thở dài: “Thư nhi, từ nay về sau, một nửa Cao gia đặt trên vai phụ thân và các ca ca của con, một nửa còn lại phải đặt trên vai con rồi. Dẫu con không thể mãi đắc sủng để giúp đỡ gia đình, cũng phải biết không được hành sự sai sót kẻo liên lụy cả tộc. Bài học nhãn tiền của Niên gia thời Tiên đế vẫn còn đó, huống hồ nhà ta ngoài cái hư danh nâng kỳ ra, thực quyền căn bản không thể so với Niên gia nắm giữ binh quyền năm xưa.”
Cao Tĩnh Thư vô thức siết chặt chiếc ngọc như ý trong tay: “Phụ thân, nhà chúng ta không có binh quyền, chẳng phải sẽ an toàn hơn sao?”
Cao Bân mỉm cười: “An toàn? Đối với hoàng gia, võ tướng nắm binh quyền mới đáng để tâm đề phòng. Còn văn thần ư, chẳng qua là tốn thêm chút nước bọt, Hoàng thượng một khi đổi ý, tùy tiện là xử lý được ngay. Thế nên Thư nhi à, văn thần càng phải cầu một cái kết trọn vẹn. Nhà ta dù không thể mãi vinh hiển thế này, cũng phải rút lui một cách êm thấm, không để xảy ra cảnh cây đổ bầy khỉ tan mà lụi bại.”
Lúc Cao Bân rời đi, nơi khóe miệng mang theo một nụ cười khó nhận ra.
Tâm trạng ông thư thái hơn nhiều so với lúc mới đến. Sự thay đổi vô tình của quân ân cuối cùng cũng khiến đứa trẻ này tỉnh ngộ, đã có thể nghe hiểu lời người nói rồi.
Tam phòng muốn đưa nữ nhi vào cung để chia sớt ân sủng, còn nhờ đại ca Cao Lân giúp tìm cửa sau, thông qua quan hệ với Thái hậu.
Về việc này, Cao Bân đã do dự suốt cả kỳ nghỉ Tết. Nếu ra tay kéo bọn họ xuống thì không khó, nhưng chỉ sợ không giấu được Nữu Hỗ Lộc thị và Thái hậu, lại vạ lây đến Quý phi; còn nếu cứ để mặc họ, ngộ nhỡ đưa vào cung một kẻ tâm cơ thâm hiểm, Quý phi chỉ sợ bị ả bán đi rồi còn giúp ả đếm tiền.
Kể từ khi ấu nữ vào cung trở về nói tỷ tỷ nay đã khác xưa, phấn chấn và sáng suốt hơn nhiều, Cao Bân đã để chuyện này trong lòng, chuẩn bị tự mình khảo nghiệm Quý phi một phen.
Sự cố tình thất vọng lúc đầu, những lời khinh miệt, cho đến lời dặn dò nghiêm túc sau đó, đều là để xem cách ứng phó của Quý phi.
Bây giờ ông đã hạ quyết tâm. Có lẽ từ nay về sau, ông không cần phải từ bên ngoài cung dốc hết tâm sức che chở Quý phi đơn độc chiến đấu nữa, mà có thể cùng Quý phi nội ứng ngoại hợp, chung tay bảo vệ Cao gia sừng sững không đổ!
Gương mặt Cao Bân tĩnh lặng như nước, nhưng trong lòng lại cuộn trào như sóng biển.
Cho đến khi chạm mặt Lý Ngọc ông mới sực tỉnh lại.
Lý Ngọc cúi người nói: “Cao đại nhân, Hoàng thượng triệu ngài tới Cửu Châu Thanh Yến để hồi thoại.”
Sự thất thần của mình rơi vào mắt Lý Ngọc, Cao Bân cũng chẳng hề hoảng hốt, ngược lại khẽ nghiêng đầu chớp mắt thật mạnh, như thể muốn xua đi ngấn lệ, bấy giờ mới nói: “Làm phiền Lý công công, mời dẫn đường.”
Đến Cửu Châu Thanh Yến, Hoàng thượng lại không hỏi gì về Quý phi, chỉ hỏi chuyện tiền bạc của Hộ Bộ.
Cao Bân cũng như thường lệ bẩm báo triều chính: “Mùa đông năm nay ít mưa, e là sang năm có hạn hán, nếu mùa màng bị ảnh hưởng, chỉ sợ thuế khóa sẽ gặp khó khăn.”
Bẩm báo xong việc triều chính, Cao Bân cáo lui.
Hoàng thượng bấy giờ mới liếc nhìn Lý Ngọc, Lý Ngọc liền bên cạnh thật thà đáp: “Nô tài nhìn thấy rồi, từ chỗ Quý phi đi ra, Cao đại nhân cứ thẫn thờ không yên, dường như còn rưng rưng lệ.”
“Nô tài nghĩ, Cao đại nhân cả đời chỉ có hai đôi con cái đích xuất, tự nhiên là vô cùng để tâm.”
Lý Ngọc thấy nét mặt Hoàng thượng thoáng hiện một nụ cười mà có lẽ chính ngài cũng không nhận ra: “Chắc cũng chỉ có Cao Bân chiều chuộng như thế mới nuôi dưỡng ra tính tình tự tại như Quý phi chăng.”
“Cũng được, Cao Bân những năm qua cũng coi như tận tụy, từ hồi ở tiềm để đã lo liệu nhiều việc cho trẫm. Trẫm nể phần trung thành này của ông ta, đối với Quý phi cũng nên khoan dung hơn một chút.”
Lý Ngọc cúi đầu. Thật sao? Hoàng thượng ngài thực sự nhìn mặt mũi Cao đại nhân mới đối xử khác biệt với Quý phi ư?
Nhiều lời nói ra, có lẽ không phải để thuyết phục người khác, mà là để cho mình một lời giải thích. Trong đầu Lý Ngọc chợt nảy ra một ý nghĩ phi lý như vậy, khiến chính ông cũng phải giật mình.
Ông lén cắn nhẹ đầu lưỡi để đầu óc minh mẫn hơn, bấy giờ mới mang theo nụ cười hiền hậu khả ái mà nịnh nọt: “Hoàng thượng anh minh, Cao đại nhân nhất định sẽ cảm niệm thánh ân.”
Lời tác giả:
①: Trích dẫn từ lời gốc của Khang Hy gia.
②: Cao Liêm trong “Sơn song thính tuyết khôi trúc” từng nói: “Tuyết rơi có tiếng, duy chỉ có ở giữa lùm trúc là thanh nhã nhất. Đêm lạnh bên cửa sổ núi, thường nghe tuyết rắc rừng trúc, xì xào tiêu sào, dồn dập sột soạt, thanh vận thong dong, làm ta thanh thản.”
③: Miêu tả mạch tượng mượn từ giáo trình Trung y, không phải lời gốc.
④: Mọi chức quan đều lấy từ những chức Cao Bân từng đảm nhiệm, nếu có trùng lặp là vì chính ông đã từng làm những việc này.
Bình luận truyện
Đang update