Thanh Xuyên Thành Uyển Quý Phi Trần Thị
Chương 3
Cung quy triều Thanh đến thời Khang Hy mới thực sự định hình, sang thời Càn Long thì dần hoàn thiện, từng điều từng mục rõ ràng. Nhưng quy tắc là chết, con người mới là sống. Những vị đế vương cường thế sẽ phớt lờ nhiều quy tắc, còn những vị nhu nhược thì bị chúng trói buộc.
Trần Nhược Tuyết đọc qua hai lượt để ghi nhớ đại khái rồi đặt bản cung quy sang một bên. Thứ này biết để tránh là được, không đáng để nghiên cứu sâu.
Nguyên chủ xuất thân từ vùng Giang Nam sông nước, gia đình cũng có chút học thức nên tinh thông chữ nghĩa. Thật may là nàng vốn trầm mặc, lại không được sủng ái nên chẳng có lấy một người bạn thân thiết, ngay cả Hà Hương cũng không hiểu rõ về nàng.
Trần Nhược Tuyết hồi nhỏ từng học thư pháp năm năm, sau này vì bận học hành nên mới tạm gác lại, mãi đến khi lên đại học tham gia câu lạc bộ thư pháp mới cầm bút trở lại. Chữ lông của nàng viết ra khá vuông vắn, dù chưa đạt đến độ thoát tục nhưng cũng coi là đẹp.
So sánh với nét chữ nguyên chủ để lại, nàng thở phào nhẹ nhõm, cả hai cũng coi như một chín một mười. Trần Nhược Tuyết bắt đầu mài mực tịnh tâm, rồi bắt đầu chép kinh Phật. Nàng không tin Phật, nhưng chép kinh là vì nguyên chủ, nàng không cố ý chiếm lấy cơ thể này nhưng dù sao cũng đã lỡ rồi. Nàng không biết trả lại thế nào, cũng sợ chết, chỉ mong việc chép kinh có thể giúp linh hồn nguyên chủ sớm ngày siêu sinh, hoặc cũng được xuyên không như mình vậy.
Vừa chép kinh vừa luyện chữ, lúc rảnh rỗi làm việc này cũng là một thú vui.
Phải nói rằng lý do nàng bình thản chấp nhận thực tế xuyên không một phần lớn là nhờ bàn tay vàng “điểm thạch thành kim”. Chỉ cần đặt viên đá vào lòng bàn tay, tĩnh tâm vài giây là đá sẽ biến thành bạc có khối lượng tương đương. Thật kỳ diệu, nàng từng định tìm hiểu nguyên lý nhưng rồi nghĩ lại, chuyện xuyên không còn xảy ra được thì chuyện hóa đá thành bạc cũng chẳng có gì lạ. Làm người đôi khi nên hồ đồ một chút, vui vẻ là được.
Trần Nhược Tuyết cũng từng thử với những thứ khác như đồng tiền, gỗ… nhưng đều thất bại. Lần thành công duy nhất ngoài đá là biến một chiếc trâm sắt thành trâm vàng, nhưng lần đó cơn đói kinh khủng khiến nàng phải ăn sạch ba bát mì lớn và hai cái màn thầu, làm Hà Hương và Hồi Hương sợ đến mức suýt đi gọi thái y.
Cơn đói quá đáng sợ nên nàng không dám thử lại nữa. Mỗi ngày nàng chỉ biến một viên đá nặng hai lạng thành bạc. Sau khi hoàn thành, nàng chỉ cảm thấy hơi đói một chút, không hề khó chịu. Hôm nay thử mức năm lạng, cơn đói khiến nàng phải ăn hai đĩa điểm tâm mới no.
Nàng đã hiểu ra quy luật: đá biến thành bạc, sắt biến thành vàng. Khối lượng dưới hai lạng thì chuyển hóa rất dễ, trên năm lạng thì cần bổ sung thức ăn ngay lập tức, khối lượng càng nặng càng tiêu tốn thể lực và năng lượng.
Ban đầu nàng thấy bàn tay vàng này chưa đủ mạnh, nhưng giờ mới nhận ra nó sinh ra là để dành cho nàng. Những thứ như linh tuyền hay không gian tuy tốt nhưng không hợp với hoàn cảnh hiện tại, mọi thứ trong cung đều có ghi chép, nàng lại có người hầu bên cạnh, muốn giấu diếm lấy đồ ra là chuyện không thể.
Nhưng tiền bạc thì khác, nàng cũng giống nguyên chủ, ngoài khoản chi tiêu hằng ngày giao cho Hà Hương thì phần lớn tiền riêng đều tự mình cất giữ kỹ càng.
Nguyên chủ vốn là thứ nữ, vì nhan sắc xinh đẹp nên được gia tộc gửi gắm vào phủ Bảo Thân vương, hy vọng nàng có thể bay lên cành cao, đem phú quý về cho gia tộc. Nhưng Trần gia cũng không phải đại phú đại quý, lúc vào phủ nàng chỉ mang theo ba trăm lạng ngân phiếu và hơn năm mươi lạng bạc vụn để tiện ban thưởng cho người khác.
Khác với tham vọng của gia đình, nguyên chủ lại là người có suy nghĩ riêng. Ban đầu có lẽ cũng từng mong đợi, nhưng sau khi vào vương phủ, nàng nhanh chóng chọn cách im lặng, trở thành một người vô hình. Không tranh không giành, không thân thiết cũng chẳng thù oán với ai, cứ thế lặng lẽ sống qua ngày, thỉnh thoảng mong chờ Vương gia/ Hoàng đế nhớ đến mình là đã đủ mãn nguyện rồi.
Số bạc đó qua bao năm cũng vơi dần, khi nàng xuyên đến, kiểm kê tài sản chỉ còn lại chưa đầy một trăm lạng. Nếu không có bàn tay vàng, nàng thực sự không biết phải sống sao trong chốn thâm cung này.
Nàng có thể phớt lờ quyền lực, sủng ái hay hài tử, nhưng chất lượng cuộc sống thì tuyệt đối không thể tệ! Nếu ăn không ngon ngủ không yên thì sống đến 92 tuổi phỏng có ích gì?
Những ngày qua nàng đã tích cóp được vài thỏi bạc hai lạng, một chiếc trâm vàng hai lạng, còn thỏi bạc năm lạng hôm nay thì đưa Hồi Hương đi mua than rồi.
Thử nghiệm hôm nay cho thấy, cơn đói khi biến năm lạng đá thành bạc vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Trời càng lúc càng lạnh, việc giữ ấm vô cùng quan trọng, trình độ y học thời này khiến nàng không yên tâm, một trận cảm mạo cũng có thể lấy mạng người nên phải vạn phần cẩn trọng.
Than lửa mỗi ngày, vải vóc giữ ấm, phần lệ hằng năm chỉ có vài xấp gấm vóc và ba cân bông, nếu không có ban thưởng thêm thì bấy nhiêu đó sao đủ qua mùa đông giá rét.
Ba cân bông sao mà đủ ấm, để không bị ốm, nàng chỉ còn cách tự bỏ tiền mua thêm bông và da thú.
Trần Nhược Tuyết quyết định từ hôm nay sẽ tăng dần khối lượng đá, cùng lắm là ăn thêm một phần điểm tâm mỗi ngày. Chỉ tốn thêm một hai lạng bạc tiền bánh trái mà thôi. Tích trữ thêm nhiều bạc thì mùa đông này sẽ dễ thở hơn.
Nghĩ lại kiếp trước xem phim cung đấu, không ít người chê bai phim hiện đại làm về cung đình cứ như chuyện bà nội trợ tranh nhau cái bánh miếng đậu, vì chút đồ ăn trang sức mà đấu đá, thật làm nhục hoàng thất.
Nhưng thực tế, trong thời đại nông nghiệp phong kiến chưa có công nghiệp hóa, ngay cả đường trắng hay mật ong cũng là xa xỉ phẩm, ngoài việc ăn mặc dùng đồ sang trọng hơn người thường ra, thì những thứ đó đều thuộc sở hữu của hoàng thất, họ chỉ có quyền sử dụng, một khi qua đời, mọi thứ phải trả lại cho Nội Vụ Phủ để người sau dùng tiếp.
Cung quy đã ghi rõ: tự ý mang đồ ngự tứ ra ngoài cung là trọng tội.
Chẳng trách nữ nhân trong cung ai nấy đều phải tranh sủng, không tiền thì bước đi cũng khó, ngay cả muốn ăn ngon một chút cũng không xong. Trần Nhược Tuyết không định tranh sủng, cũng chẳng nghĩ mình đủ thông minh để làm sủng phi, nên chỉ có thể dựa vào chính mình. Lấy lòng Hoàng thượng chẳng thà lấy lòng bàn tay vàng của mình còn hơn.
Chép xong một cuốn kinh Phật chừng năm trăm chữ, nàng định cứ mỗi ngày chép một cuốn, đến mùng một tháng sau sẽ gửi đến Trùng Hoa cung cúng dường cho nguyên chủ.
Nàng viết rất chậm, lúc xong cũng là lúc đến giờ dùng bữa tối. Ở Đông trắc điện không có đồng hồ, thực tế thời Càn Long đồng hồ tuy là xa xỉ phẩm nhưng không phải hiếm lạ. Như ở chính điện của Thuần Tần có bày một chiếc đồng hồ tọa chung do Càn Long ban thưởng khi nàng sinh Tam A ca, nàng ấy vẫn luôn trân quý nó.
Tiếc là dù không hiếm, nhưng một Thường tại thất sủng như nàng cũng chẳng được cấp.
Còn việc tự mua? Khoan nói có mua được không, với số tài sản hiện tại, có ngốc mới bỏ ra đống tiền mua một chiếc đồng hồ nặng nề về dùng.
Đám người Hà Hương nhìn trời là biết mấy giờ, độ chính xác cực cao, nên có đồng hồ hay không cũng chẳng quan trọng.
Vừa chép xong kinh, Hồi Hương khẽ bước vào thưa: “Chủ tử, bữa tối đã mang về rồi, người muốn dùng ở thư phòng hay hoa sảnh?”
“Hoa sảnh.”
Nàng trả lời ngay, ăn ở thư phòng dễ làm sách vở ám mùi thức ăn. Nàng tuy không quá sạch sẽ nhưng vẫn có những nguyên tắc riêng trong vài chuyện nhỏ nhặt. Thư phòng sao có thể là nơi dùng bữa được chứ.
Vừa nói nàng vừa nhanh tay thu dọn bút mực trên bàn. Hồi Hương đứng bên cạnh không dám chạm tay vào, thực ra những việc này không nên để chủ tử tự làm, nhưng lần trước nàng định giúp thì bị từ chối, nên từ đó nàng không dám tùy tiện đụng vào đồ đạc trong thư phòng, đặc biệt là bàn viết của chủ tử.
Trần Nhược Tuyết không biết sự “không dám” của Hồi Hương, nàng không cho người khác dọn dẹp bàn viết chẳng qua là thói quen từ nhỏ mà thôi.
Dù vậy, nàng cũng đang cố gắng thích nghi với cuộc sống được người khác hầu hạ.
Rời thư phòng, nàng đến phòng rửa tay để chuẩn bị dùng bữa. Phòng này nằm sâu bên trong, vì có một thùng tắm lớn nên trông rộng hơn thư phòng một chút. Để đảm bảo riêng tư và giữ ấm, nơi này không có cửa sổ, chỉ có bức bình phong cao lớn ngăn cách với phòng ngủ.
Góc phòng đặt một bức bình phong nhỏ cao nửa người, bên trong là bô vệ sinh. Cạnh tường là thùng tắm gỗ lớn, trên giá gỗ bày bốn chậu đồng cùng khăn mặt, xà phòng thơm và các vật dụng vệ sinh khác.
Hồi Hương biết chủ tử mình rất thích sự sạch sẽ, trước và sau bữa ăn đều rửa tay kỹ lưỡng, ngay cả khi ăn hoa quả điểm tâm cũng vậy. Nàng nhấc ấm đồng lớn đặt trên bếp than, nước nóng bên trong luôn được đun liên tục cả ngày.
Nước nóng được đổ vào chậu rồi pha thêm chút nước lạnh cho vừa ấm.
Hồi Hương lùi lại một bên: “Chủ tử, nước đã vừa rồi.”
Trần Nhược Tuyết gật đầu, cúi xuống rửa tay. Bệnh từ miệng mà vào, nếu không thể nâng cao trình độ y tế của thời đại này thì phải chú ý từng chi tiết nhỏ trong cuộc sống. Đôi bàn tay ngâm trong nước ấm mang lại cảm giác dễ chịu vô cùng, nàng dùng xà phòng thơm xoa kỹ. Loại xà phòng này được làm từ các vị thuốc bắc như bạch chỉ, bạch cập trộn với mỡ lợn đã lọc sạch và hương liệu. Loại của nàng có mùi hoa nhài thanh khiết, trang nhã. Dù trình độ sản xuất còn hạn chế, nhưng việc theo đuổi cái đẹp thì thời nào cũng giống nhau.
Thấy nàng đã rửa sạch, Hồi Hương vội đưa khăn lau tay.
“Chủ tử, bữa tối đã dọn sẵn rồi. Ngoài thịt heo xào anh đào và canh gà măng chua người dặn, còn có cải thảo xào, bao tử heo xào và đậu phụ chiên mềm, cơm gạo trắng và một đĩa màn thầu bột mì.”
Nàng vừa ngồi vào bàn, Hà Hương mỉm cười giới thiệu.
Trần Nhược Tuyết khẽ gật đầu. Nàng vốn là kẻ coi trọng miếng ăn, hay còn gọi là tâm hồn ăn uống. Từ khi có bàn tay vàng, nàng lại càng chăm lo cho việc ăn uống hơn, phải ăn no mới có sức mà “biến hóa” chứ.
Các món ăn trên bàn đều đủ sắc hương vị, món thịt vẫn còn bốc khói nghi ngút, không hề thấy váng mỡ đông. Tuy không vượt quá phần lệ của Thường tại nhưng như thế này đã là cực tốt rồi.
Đây chính là kết quả của việc thường xuyên thưởng tiền cho Ngự Thiện Phòng, nếu không thì đừng mong ăn ngon được như vậy. Giống như món cải thảo xào này, nếu không có tiền thưởng thì họ sẽ mang đến cho nàng một đĩa rau nát bét, nhìn một lần là cả đời không muốn ăn lại.
Bình luận truyện
Đang update