Thanh Xuyên Thành Uyển Quý Phi Trần Thị
Chương 64
Nếu là họa tiết thêu trên y phục, càng nhiều và càng dày thì Trần Nhược Tuyết càng thích. Nhưng với những món đồ dùng cá nhân như đồ lót hay chăn nệm, nàng lại chuộng chất liệu vải bông mịn hơn cả. Tuy không sang trọng bằng gấm vóc nhưng đúng là kinh nghiệm của người già không sai chút nào, những thứ chạm trực tiếp vào da thịt thì cứ phải là vải sợi bông mới thoải mái nhất.
Y phục mới và áo choàng phải được cắt may kỹ lưỡng rồi gửi tới Tú phường để hoàn thiện. Đoàn người hoàng gia đi xa luôn mang theo đầy đủ thầy thuốc, đầu bếp cho tới tú nương. Chỉ cần nhìn Trần Nhược Tuyết mang theo cả chăn nệm là biết những người khác thế nào rồi, họ phải khiến Hoàng thượng lúc nào cũng thấy thoải mái và chu toàn nhất, nếu không… cái đầu của đám nô tài bên dưới chắc chẳng giữ nổi quá?
Nếu không thì bốn chiếc xe ngựa sao mà không chứa hết hành lý chứ. Có điều kiện dĩ nhiên nàng phải chọn cách sống sao cho thoải mái nhất. Tuy nàng không mắc chứng lạ giường nhưng chăn nệm vẫn thích dùng đồ của mình hơn, chẳng vì lẽ gì khác ngoài thói quen.
Đặc biệt là chiếc chăn tơ tằm của nàng, trong phần bổng lộc hàng ngày chỉ có chăn bông thôi. Chiếc chăn tơ tằm này nàng phải bỏ ra tới 35 lạng bạc để mua, trong khi bổng lộc cả năm của một Đáp ứng chỉ có 30 lạng thôi đấy. Vật giá trong cung cao ngất ngưởng, nàng cũng chẳng buồn nghĩ ngợi xem là do đồ ngự dụng đắt đỏ hay do Nội Vụ Phủ tham nhũng nữa, đến cả Phú Sát Hoàng hậu còn chẳng thay đổi được chuyện này thì nàng lại càng không. Một chiếc chăn bông bình thường theo lời Hồi Hương nói, bên ngoài cung chỉ mất hai ba lạng bạc, vậy mà trong cung ít nhất cũng phải mười lạng.
Trong những ngày ở hành cung, Cao Quý phi là người đắc sủng nhất, kế đến là Lâm Thường tại. Trần Nhược Tuyết cũng được Hoàng thượng lật thẻ bài vài lần, ngay cả Hải Quý nhân vốn chẳng mấy được sủng ái cũng hiếm hoi được hầu hạ vài lần, khiến cả hành cung rộn ràng hẳn lên.
Nàng còn thấy thường xuyên có thư từ qua lại giữa hoàng cung và hành cung, không phải là việc triều chính mà là thư từ từ hậu cung. Trong cung do Thuần Phi quản lý, thư gửi cho Hoàng thượng cũng do nàng ấy viết. Có cơ hội tốt thế này, Thuần Phi dĩ nhiên phải tính toán cho bản thân và Vĩnh Chương, nên nàng ấy thường mượn thư từ để kể về những chuyện thường nhật của Vĩnh Chương cho Hoàng thượng nghe: nào là hôm nay ăn thêm một bát trứng hấp, nào là mai Vĩnh Chương nói nhớ Hoàng a mã rồi…
Thế là những người khác trong cung muốn gửi thư bày tỏ tình cảm với Hoàng thượng đều bị Thuần Phi tìm cớ giữ lại hết.
Bỗng chốc, người cũ người mới chẳng ai bị ghẻ lạnh, khiến Hoàng thượng bận rộn tối mày tối mặt. Chỉ có Bách Thường tại – người mới đắc sủng dạo trước từng dám vỗ mặt Trần Nhược Tuyết – là thảm hại. Lúc đắc sủng thì là ngọc quý trên tay, giờ thất sủng một cái, nhìn dáng vẻ của Hoàng thượng, Trần Nhược Tuyết thấy e là Hoàng thượng sắp quên sạch cái tên Bách Thường tại rồi.
Tuy nhiên, nàng tự nhận mình là người tốt nhưng cũng chẳng bao giờ lấy đức báo oán, nàng và Bách Thường tại còn có thù đấy, nên dĩ nhiên chẳng rảnh hơi mà đi kêu oan cho nàng ta. Nhưng điều đó không ngăn cản nàng thầm mắng Hoàng thượng là một gã tồi lạnh lùng bạc bẽo trong lòng.
Sau mười mấy ngày rét mướt liên tiếp, thời tiết bắt đầu ấm dần lên, dẫu sao cũng đã vào xuân, cây cối đều đã đâm chồi nảy lộc. Những ngày lạnh lẽo vừa qua chẳng qua là do mưa dầm, hễ tạnh mưa là nhiệt độ tăng vù vù ngay.
Hà Hương nấu một ấm trà sữa, rót một chén đưa cho nàng: “Không biết Tết Đoan ngọ năm nay chúng ta sẽ đón ở đâu nhỉ?”
Trần Nhược Tuyết đang ngồi trên chiếc ghế bập bênh ngoài sân, chiếc ghế này nàng lôi từ trong gác ra, thấy còn chưa hỏng hẳn nên bảo Tiểu Lộc Tử tranh thủ sửa sang lại. Hôm nay thời tiết khá đẹp nên nàng ra đây ngồi sưởi nắng.
Nàng cầm chiếc quạt tròn thêu tinh xảo, cán quạt làm bằng ngọc ấm, mặt quạt trắng thêu những đóa sơn trà bằng sợi vàng sợi bạc, cứ thong thả mà quạt. Thời tiết hôm nay mát mẻ, cũng chưa tới mức cần dùng quạt, nàng cầm chẳng qua là để cho đẹp thôi.
Đón lấy chén trà sữa từ tay Hà Hương, nàng khẽ dùng mu bàn tay thử nhiệt độ, thấy không quá nóng mới nhấp một ngụm.
“Đoan ngọ còn lâu mới tới mà, lúc đó kiểu gì chúng ta cũng về Viên Minh Viên rồi.” Nàng cười đáp.
Ở hành cung này chẳng qua là nhờ có suối nước nóng, nếu không thì mọi thứ đều bất tiện, muốn ăn uống gì cũng phải do trong cung gửi tới. Đừng nói là Hoàng thượng, ngay cả nàng cũng chẳng mặn mà gì ở lại đây lâu.
Đợi khi trời nóng lên không hợp ngâm suối nước nóng nữa, chẳng cần ai nhắc Hoàng thượng cũng sẽ tự chuồn đi ngay.
Sưởi nắng thấy khoan khoái, nàng tùy tay nhón một miếng bánh vừng rồi gặm nhấm như con chuột hamster bằng hai chiếc răng cửa. Chẳng phải vì thèm ăn mà hoàn toàn là vì rảnh rỗi sinh nông nổi thôi.
Thời này cũng chẳng có viên canxi nào, muốn bổ sung canxi thì chỉ có cách sưởi nắng, uống sữa… hoặc hầm canh xương thôi.
Tiểu Lộc Tử từ trong phòng bước ra, mặt mày nhăn nhúm như quả táo tàu khô.
“Ngươi bị làm sao thế, đánh rơi bạc à?” Hồi Hương thấy bộ dạng đó liền không nhịn được cười.
“Đâu có, hai cái màn thầu của chủ tử mọc lông xanh lè bốc mùi hôi thối hết cả rồi.” Tiểu Lộc Tử xua tay với Hồi Hương rồi quay sang nói với nàng.
Tiếng gặm bánh vừng dừng bặt, nàng chẳng muốn tưởng tượng ra cảnh chiếc màn thầu bốc mùi đó trông thế nào.
Lại thất bại rồi, nàng tùy ý phẩy tay: “Mau mang đi vứt đi.”
Tiểu Lộc Tử vội vàng gật đầu: “Tuân lệnh ạ.”
Trần Nhược Tuyết lại đang bày trò “phá phách”, nàng cứ cảm thấy trình độ y tế thời cổ đại quá thấp, cuộc sống chẳng được đảm bảo, nhưng ngặt nỗi nàng chẳng phải dân học y chuyên nghiệp. Đọc ngốn ngấu được hai cuốn y thư nhưng nàng chẳng phải thiên tài y học gì cho cam. Xem qua loa mấy cuốn sách ấy rốt cuộc cũng chỉ nhận diện được mấy loại cỏ dại hay sâu bọ có giá trị làm thuốc ven đường mà thôi.
Vò đầu bứt tai, suy nghĩ nát óc suốt một thời gian dài, bỗng nhiên nàng nhớ tới một loại thuốc – một loại dược phẩm mang tính bước ngoặt trong lịch sử y học nhân loại: penicillin tự chế. Dẫu rằng trước khi xuyên không tới đây, lĩnh vực y học đã phát triển vượt bậc, đã có những loại thuốc kháng sinh tốt hơn nhiều để cứu người, nhưng không ai có thể phủ nhận vị trí lịch sử của vị “thần dược” này.
Sau khi suy nghĩ nát óc, nàng rốt cuộc cũng nhớ lại được đôi chút về phương pháp sản xuất penicillin tự chế. Tất cả là nhờ kiếp trước trào lưu truyện xuyên không rầm rộ, lúc rảnh rỗi nàng lại hay lên mạng xem người ta tán dóc. Hồi đó nàng từng theo dõi một bài viết mang tên “Bàn về việc người hiện đại sau khi xuyên không có thể làm được gì”. Không ít người vào bình luận, tán hươu tán vượn đủ thứ chuyện, trong đó có người nói sẽ về thời Dân quốc để sản xuất thuốc kháng sinh penicillin cho tổ quốc, còn liệt kê chi tiết khả năng sản xuất của mình nữa.
Câu trả lời ấy đầy nhiệt huyết, đến giờ nàng vẫn còn nhớ loáng thoáng những thứ như đĩa nuôi cấy nấm xanh, phương pháp dùng than hoạt tính để chiết tách penicillin, vân vân và vân vân.
Tiếc là tới khi bắt tay vào thực nghiệm, nàng đã làm hỏng không biết bao nhiêu chiếc màn thầu rồi.
Trong lịch sử, penicillin được phát hiện vào thế kỷ XIX, giờ đang là thế kỷ XVIII, tính ra chỉ chênh lệch chưa đầy một trăm năm, chẳng lẽ thứ mà người ngoại quốc nghiên cứu ra được thì trên mảnh đất thần châu rộng lớn này lại chẳng ai làm nổi. Tiếc là thân phận của nàng quá bị hạn chế, giá như nàng không xuyên không vào hậu cung mà là một địa chủ nhỏ ở dân gian hay một vương gia tông thất thì tốt biết mấy. Lúc đó tha hồ vung tiền chiêu mộ kỳ nhân dị sĩ trong thiên hạ, chứ đâu có thảm như bây giờ, cái gì cũng phải tự thân vận động.
“Chủ tử, rốt cuộc là người định làm gì với chúng vậy ạ?” Tiểu Lộc Tử tò mò hỏi sau khi đã đi vứt mấy chiếc màn thầu thối.
Trần Nhược Tuyết nhìn hắn đầy bí hiểm, cười một hồi rồi mới bảo: “Muốn biết lắm à?”
Tiểu Lộc Tử vội vàng gật đầu lia lịa, vẻ mặt cũng nghiêm túc hẳn lên.
“Không nói cho ngươi biết đâu!”
Tiểu Lộc Tử: “…”
Chủ tử, người thật là hoạt bát quá đi mất.
Sau khi trêu chọc Tiểu Lộc Tử một trận, Trần Nhược Tuyết lại ngả mình trên chiếc ghế bập bênh, thầm nghĩ thất bại thì cứ thất bại vậy. Thất bại là mẹ của thành công, dù sao cho dù có nuôi cấy được penicillin, thì bước tiếp theo là lọc, hấp thụ hay phân tầng ra sao, nàng vẫn chưa có chút manh mối nào.
Dẫu sao hiện tại cơ thể nàng vẫn đang khỏe mạnh, vẫn còn hàng chục năm để nghiên cứu mà. Nàng không tin dù mình có ngốc đến đâu, phía sau nàng vẫn là cả một thế giới bùng nổ thông tin của hậu thế. Người ta từ con số không còn nghiên cứu ra được, nàng đứng trên vai những người khổng lồ, đã từng xem qua các phương pháp phân tích chi tiết, chẳng lẽ lại không làm ra được. Nàng vẫn cần phải chăm chỉ học hỏi, đặc biệt là những cuốn sách của Đạo gia, bên trong ghi chép không ít kiến thức vật lý và hóa học, thậm chí có những thứ đã vượt xa thời đại này từ lâu.
Nàng vẫn còn trẻ, đó chính là vốn liếng lớn nhất.
Sau khi tự cổ vũ bản thân một cách nghiêm túc trong lòng, Trần Nhược Tuyết lại tiếp tục nằm ườn như cá mặn trên ghế bập bênh. Thôi thì, từ ngày mai bắt đầu phấn đấu cũng vậy thôi.
Đã quen với kiếp cá mặn, tuy lúc nào cũng phàn nàn về trình độ y tế, nhưng nếu không có cảm giác khủng hoảng, Trần Nhược Tuyết cũng chẳng có động lực để vươn lên. Quan trọng nhất là lúc tự khích lệ thì nói nghe rất hay, hận không thể giây sau đã “đấm Nam Sơn, đá Bắc Hải”, nhưng thực tế đối với những việc chưa từng làm, nàng vẫn thấy chột dạ và thiếu tự tin.
Cứ đợi đến khi sắp xếp lại suy nghĩ từ đầu rồi tính sau vậy.
Ăn ngự thiện cung đình liên tiếp mấy ngày, Trần Nhược Tuyết chợt thấy nhớ da diết những món ăn vặt lề đường thuở nào.
Nào là mì lạnh nướng, bánh tuộc viên, mì căn chay, bánh xếp áp chảo, bánh hành chiên, gà phi lê chiên, cánh gà nướng…
Trần Nhược Tuyết không phải sinh viên y dược, và nàng cũng chẳng phải đầu bếp. Nhưng nghiên cứu ẩm thực dù sao cũng dễ dàng hơn nghiên cứu penicillin nhiều. Những món lề đường mà nàng lẩm nhẩm trong miệng, trong cung vốn dĩ không có, nhưng chỉ cần nàng có thể mô tả được thứ mình muốn, các ngự trù chỉ trong phút chốc là có thể làm ra ngay.
Cũng chẳng phải cao lương mỹ vị quý hiếm gì, trong cung tuy không có bạch tuộc, nhưng Trần Nhược Tuyết cũng chẳng nề hà việc biến bánh tuộc viên thành bánh tôm viên. Tiểu Lộc Tử cũng đã quen với việc chủ tử nhà mình mỗi ngày một ý tưởng, dù sao cũng chỉ là chút đồ ăn, kiểu gì cũng phải làm hài lòng chủ tử.
Tiểu Lộc Tử mang theo bạc đến thiện phòng, những món ăn mà Trần Nhược Tuyết yêu cầu các ngự trù đều chưa từng làm qua. Nhưng thấy đích thân Tiểu Lộc Tử đến, lại còn đưa tiền thưởng hậu hĩnh, đầu bếp thiện phòng vội vàng gật đầu, hỏi han kỹ lưỡng từng món mà Uyển Tần nương nương muốn ăn rồi bắt đầu thử nghiệm từng thứ một.
Ẩm thực lề đường quan trọng nhất là cách làm đơn giản, nhanh chóng và chiến thắng bằng hương vị. Đối với những ngự trù vốn đã quen thuộc với Mãn Hán Toàn Tịch, đây chỉ là chuyện nhỏ. Điều khó khăn duy nhất là họ chưa bao giờ thấy những món Trần Nhược Tuyết yêu cầu, sợ rằng không nắm bắt được chuẩn vị.
Nhưng sau cùng, đó cũng chỉ là những chuyện vặt vãnh.
Ngay trong ngày hôm đó, Trần Nhược Tuyết đã được thưởng thức những “món ngon lề đường” mà mình hằng mong nhớ.
Tuy nhiên, người cùng nếm thử món ngon ngoài Trần Nhược Tuyết ra còn có thêm ba vị khách nữa: Vĩnh Liễn tình cờ đến thỉnh an, cùng với Hòa Kính và Hòa Uyển tranh thủ lúc rảnh rỗi sang chơi.
Các A ca chỉ cần thỉnh an sinh mẫu và Hoàng hậu, không cần phải thỉnh an các thứ mẫu khác. Nhưng từ sau khi Trần Nhược Tuyết cứu Vĩnh Liễn, cậu bé hễ rảnh là lại sang chỗ nàng ngồi một chút. Trần Nhược Tuyết hiểu rõ đây chắc hẳn là ý của Phú Sát Hoàng hậu, chỉ là không hiểu vì sao Hoàng hậu lại để Vĩnh Liễn đến đây mà thôi.
Trần Nhược Tuyết có một điểm tốt là chuyện gì nghĩ không thông, chuyện gì không thấy hứng thú thì tuyệt đối không đào sâu tìm hiểu.
Vĩnh Liễn tới thì nàng đón tiếp chân thành, không tới nàng cũng chẳng để tâm. Dù sao Vĩnh Liễn cũng không đến thường xuyên, hai batháng mới ghé qua một lần.
Thấy ba đứa trẻ cùng rủ nhau đến, Trần Nhược Tuyết mỉm cười: “Thật là khéo quá, các con cùng tới một lúc, hay là ngửi thấy mùi thơm rồi?”
Trần Nhược Tuyết vẫy tay gọi các con ngồi xuống, và bảo Hà Hương dâng trà sữa cho ba đứa trẻ.
Vĩnh Liễn giữ đúng lễ nghi, ngồi ngay ngắn một bên như một người lớn thu nhỏ, quả thực có vài phần dáng dấp của Hoàng thượng.
“Uyển nương nương, người lại mới nghĩ ra món gì vậy, thơm quá đi mất!”
Hòa Kính thì chẳng có nhiều kiêng dè như vậy, có thể nói Hòa Kính ở chỗ của Trần Nhược Tuyết còn cảm thấy thư thái hơn ở chỗ của Phú Sát Hoàng hậu. Xét về mức độ thân mật, đương nhiên sinh mẫu vẫn là quan trọng nhất, nhưng Phú Sát Hoàng hậu kể từ sau khi Vĩnh Liễn rơi xuống nước tuy đã thay đổi nhiều, nhưng vẫn là một vị Hoàng hậu được nuôi dưỡng từ đại gia tộc, mẫu nghi thiên hạ mới là điều tiên quyết. Nàng thương yêu con cái, nhưng cũng cực kỳ chú trọng quy củ.
Trần Nhược Tuyết thì khác, bản thân nàng vốn chẳng phải người chú trọng thân phận hay lễ nghi. Khi ở cạnh Hòa Kính, nàng coi các cô bé như những người bạn cùng lứa, tuyệt đối không vì mình lớn tuổi hay lớn vai vế mà nhường nhịn. Những chuyện như vì một hai miếng ăn mà ăn vạ, Trần Nhược Tuyết cũng chẳng làm thiếu lần nào.
“Các con đến thật đúng lúc, hôm nay có lộc ăn rồi. Đi rửa tay rồi lại đây ăn, Nhị A ca cũng cùng nếm thử nhé?” Trần Nhược Tuyết nói.
“Tạ ơn Uyển nương nương.” Vĩnh Liễn đỏ mặt, có chút ngại ngùng khi được mời ăn.
Hòa Kính thì chẳng thấy ngại chút nào, vội vàng kéo Hòa Uyển đi rửa tay. Vì Uyển nương nương đã nói vậy, món ngon hôm nay chắc chắn là thứ các cô bé chưa từng được ăn, nếu chậm trễ là Uyển nương nương sẽ tự mình đánh chén hết cho xem.
Trần Nhược Tuyết nhìn Hòa Kính với vẻ mặt đầy mong đợi, lại nhìn Vĩnh Liễn thư thái như một quý công tử, đột nhiên cảm thấy có chút lỗi với Phú Sát Hoàng hậu.
Rõ ràng lúc đầu Hòa Kính đâu có thế này, sao càng ngày càng giống một “kẻ ham ăn” thế nhỉ.
Hà Hương đem những món ăn mà Tiểu Lộc Tử xách về bày biện từng thứ một.
Món ăn lề đường được đặt tinh tế trong những chiếc đĩa sứ nung từ lò quan, bên cạnh còn có hoa văn điêu khắc trang trí, thoáng chốc đã mang lại cảm giác như đang dự quốc yến.
“Nếm thử món tôm viên này đi, được làm từ bột mì, tôm tươi, khoai môn và các thứ khác nướng lên, bên trên có rưới nước sốt tương ngọt.”
Trần Nhược Tuyết ra hiệu cho Hà Hương gắp thức ăn cho bọn trẻ. Nàng cũng biết rõ không thể phục dựng nguyên bản một trăm phần trăm những món này, chắc chắn sẽ có chút cải biên, nhưng nàng chẳng bận tâm, ngon mới là chân lý.
Tôm viên vị rất ngon, cắn một miếng thấy dai giòn sần sật, đậm đà vị tươi, đặc biệt là phần nhân tôm bên trong, hương vị mặn thơm hòa quyện với nước sốt chua ngọt, quả nhiên những món ăn càng kém lành mạnh thì càng dễ dàng chinh phục vị giác của con người.
Ngay cả Vĩnh Liễn còn đang hơi thẹn thùng, sau khi ăn xong cũng không khỏi sáng rực mắt lên, thầm lặng tăng tốc độ ăn.
Gà phi lê chiên rắc muối tiêu, mì lạnh nướng chua chua ngọt ngọt nhưng rất giống mì xào, và món bánh hành chiên mà Trần Nhược Tuyết mong nhớ nhất, tiếc là trong bánh không có que cay Vệ Long, thiếu đi “linh hồn”, nhưng vị vẫn rất tuyệt. Điều khiến Trần Nhược Tuyết ngạc nhiên nhất là đại đầu bếp thậm chí còn làm ra được cả món lẩu xiên que nguội, hương vị vô cùng xuất sắc.
Chỉ là vị hơi cay một chút, kết hợp với những món chiên hơi ngấy thì lại vừa khéo. Hút một hơi thật sâu trà sữa thêm đá, thật là sảng khoái cực kỳ.
Trần Nhược Tuyết thân thể vốn bền bỉ, ăn uống tùy tiện cũng không sao. Nhưng Vĩnh Liễn và các Công chúa thì khác, cái dạ dày non nớt không thể ăn lẫn lộn nóng lạnh như nàng được, nhưng chúng đều là những đứa trẻ biết tự kiềm chế, không đợi nàng nhắc nhở, chúng đã biết chỉ nên nếm thử chút ít mà thôi.
“Đây là tay nghề của đầu bếp nào trong thiện phòng vậy, là người của hành cung hay từ trong cung mang tới? Đợi lúc chúng ta đi, con phải nhắc ngạch nương đưa người này về cung, tay nghề này không thể để lãng phí được.” Hòa Kính ăn xong liền vui vẻ nói.
Trần Nhược Tuyết cũng không biết là tay nghề của đầu bếp nào, liền đưa mắt nhìn Tiểu Lộc Tử.
“Bẩm chủ tử, bẩm Công chúa, là một đầu bếp họ Trương ở hành cung, tên là Trương Tam Thủy ạ.” Tiểu Lộc Tử vội vàng khom người đáp.
Hòa Kính gật đầu ghi nhớ.
Sau này khi Trương Tam Thủy biết mình được theo về cung hầu hạ, nước mắt lập tức tuôn rơi, hướng về phía chỗ Trần Nhược Tuyết ở mà dập đầu thật mạnh ba cái.
Ở hành cung thì chẳng có tương lai gì, kẻ làm cung nhân nào chẳng hy vọng được về cung hầu hạ. Thường thì những cung nhân phạm lỗi mới bị đày đến hành cung, nô tài ở hành cung mà còn phạm lỗi nữa thì coi như hoàn toàn hết hy vọng.
Không ngờ ông ta chỉ làm một bữa cơm mà lại có được cơ hội về cung, trong phút chốc Trương Tam Thủy không kìm được những giọt nước mắt già nua, vừa là mừng rỡ vừa là xúc động. Trái lại, Vương Tuyền – người cùng tới hầu hạ – lại cười hì hì đỡ Trương Tam Thủy dậy, an ủi vài câu.
Sau khi cựu tổng quản Ngự Thiện Phòng bị Hoàng thượng phạt, Vương Tuyền vẫn luôn muốn tiến thân thêm một bước. Tiếc rằng ở Ngự Thiện Phòng không có vây cánh, lần này tới hành cung hắn đã bắt đầu toan tính, Trương Tam Thủy chính là người hắn nhắm tới, nếu không thì một đầu bếp hành cung sao có cơ hội nấu ăn cho chủ tử? Ban đầu hắn định mượn tay Uyển Tần nương nương để điều Trương Tam Thủy về, không ngờ lại lọt vào mắt xanh của Hòa Kính Công chúa.
Nơi nào có người, nơi đó có giang hồ, câu nói này quả không sai. Trần Nhược Tuyết chẳng hề biết mình chỉ muốn ăn một miếng thôi mà trong đó lại ẩn chứa bao nhiêu sự lắt léo, tính toán.
Nàng đang kêu ca rằng mình đã ăn hơi no rồi đây.
“Uyển nương nương, người phải học cách tiết chế đi.” Hòa Kính chân thành khuyên bảo, khiến hai người trông như Hòa Kính là trưởng bối, còn Trần Nhược Tuyết là vãn bối vậy.
Vĩnh Liễn có chút ngạc nhiên, theo bản năng nhìn về phía Trần Nhược Tuyết. Uyển nương nương dù sao cũng là thứ mẫu, là trưởng bối, Hòa Kính như vậy có chút thất lễ rồi.
Chẳng ngờ Trần Nhược Tuyết tì chẳng hề để tâm, cười hì hì gật đầu: “Hòa Kính nói đúng, Hòa Uyển con nhất định đừng học theo Uyển nương nương nhé, Uyển nương nương cứ thấy đồ ngon là không kìm lòng được.”
Hòa Uyển mím môi cười, gật đầu: “Hòa Uyển sẽ nghe lời ạ, Uyển nương nương cũng phải biết sai mà sửa đấy nhé~”
Trần Nhược Tuyết: “…”
Hòa Uyển đáng yêu cũng đã trở nên “bụng đen” rồi, từ một viên trôi nước bột nếp trắng trẻo đã biến thành bánh bao nhỏ nhân mè đen rồi.
“Chúng ta đánh cờ đi?”
Trần Nhược Tuyết quyết định đổi chủ đề, dạo gần đây nàng có chút cãi không lại Hòa Kính, huống hồ thi thoảng Hòa Uyển còn đứng bên cạnh bồi thêm một nhát dao, nàng sắp không nói lý nổi với hai đứa trẻ này nữa rồi.
Bộ cờ nhảy bằng vàng của Trần Nhược Tuyết đã sớm gom đủ quân, nhưng quân cờ vàng lấp lánh thì không chơi được, nàng lại bảo Tiểu Lộc Tử tìm thợ tráng men màu lên quân cờ vàng. Đỏ, vàng, xanh dương, xanh lá, trắng, vừa vặn có năm màu.
Ba đứa trẻ Hòa Kính chưa từng thấy cờ nhảy, chỉ cảm thấy những quân cờ này vô cùng mới lạ.
“Uyển nương nương, đây là cờ gì vậy, chơi thế nào?” Hòa Kính cầm một quân cờ màu đỏ lên tò mò hỏi.
“Cờ nhảy, cách chơi cũng rất đơn giản, cách một quân cờ là có thể nhảy lên, nếu không có quân cờ thì chỉ có thể di chuyển từng ô một.”
Trần Nhược Tuyết nghiêm túc giảng giải cách chơi cho ba người, còn về nguồn gốc của bộ cờ nhảy thì càng dễ nói, dẫu sao cả cung đều biết nàng là người chỉ biết ăn uống chơi bời. Nghĩ ra vài trò chơi cũng không phải chuyện lạ, chỉ là có chút ngại ngùng khi phải cắn rứt lương tâm mà nói rằng cờ nhảy là do mình tự nghĩ ra.
Ngay cả Vĩnh Liễn cũng không ngạc nhiên, cậu tuy chưa được xuất cung, nhưng những bạn học bên cạnh thì có thể, họ không ít lần kể cho cậu nghe chuyện ngoài cung. Nào là công tử nhà ai lại nghĩ ra trò chơi gì, đều là những đứa trẻ nửa lớn nửa nhỏ đầy hiếu kỳ, dù không cố ý nói với Vĩnh Liễn thì lúc trò chuyện cũng sẽ nhắc đến đôi chút.
Vĩnh Liễn chỉ cảm thấy nếu Uyển nương nương là thân nam nhi, chắc chắn sẽ là một trong những kẻ phong lưu đa tình nhất đẳng kinh thành. Nghĩ đến đây, Vĩnh Liễn chợt thấy có chút ngại ngùng, Uyển nương nương đã cứu mạng cậu, còn mời cậu ăn đồ ngon, sao cậu có thể nghĩ về Uyển nương nương như vậy chứ, thật là không nên.
Trần Nhược Tuyết trong vô tri vô giác quả thực đã xây dựng cho mình không ít “hình tượng”, nhưng suy cho cùng đều có lợi cho cuộc sống “cá mặn” của nàng. Có cẩn trọng đến đâu cũng không thay đổi được sự khác biệt giữa người hiện đại và người cổ đại, chi bằng cứ âm thầm bộc lộ một vài điểm khác biệt để mọi người dần thích nghi. “Luộc ếch bằng nước ấm”, như vậy mới không bị lộ thân phận.
Hòa Kính chẳng nghĩ nhiều đến vậy, nghe hiểu quy tắc cờ nhảy xong liền hào hứng muốn chơi vài ván.
Vĩnh Liễn và Hòa Kính là huynh muội cùng mẹ, thứ Hòa Kính hiếu kỳ yêu thích thì Vĩnh Liễn cũng có hứng thú tương tự. Nhưng Vĩnh Liễn, với tư cách là đích tử được Hoàng thượng và Phú Sát Hoàng hậu đặt nhiều kỳ vọng từ nhỏ, luôn phải tiết chế, giữ lễ, thông tuệ, hiếu thảo… Dần dần những từ đó trở thành ấn tượng đầu tiên của người khác khi nhắc tới Vĩnh Liễn, và bản thân cậu cũng phát triển theo hướng đó. Nếu không phải sau khi cậu rơi xuống nước, tính tình Phú Sát Hoàng hậu thay đổi lớn, Vĩnh Liễn vẫn sẽ là một đích tử hoàn mỹ nhất, không để lộ chút tinh nghịch hay hiếu kỳ nào của trẻ thơ.
Chơi cờ nhảy với ba đứa trẻ, Trần Nhược Tuyết dựa vào việc hiểu rõ quy tắc nên đã thắng được vài ván. Chẳng ngờ sau vài ván, Vĩnh Liễn đã quen với quy tắc trò chơi, Trần Nhược Tuyết bỗng nhiên trở thành người thảm hại nhất trong bốn người, ngay cả Hòa Uyển cũng mượn quân cờ của Hòa Kính mà thắng được nàng.
Trần Nhược Tuyết thua đến mức muốn ăn vạ, nhưng chạm phải ánh mắt thuần khiết của Vĩnh Liễn và vẻ mặt “quả nhiên là thế” của Hòa Kính, nàng lập tức thấy ngượng ngùng. Nàng đã lớn thế này rồi, chẳng lẽ chơi trò chơi với trẻ con mà thua lại đi ăn vạ sao.
Vì vậy, Trần Nhược Tuyết quyết định… không chơi nữa!
“Chơi đi mà, chơi đi mà, Uyển nương nương chơi thêm vài ván nữa đi, tụi con nhường người một bước… không! Ba bước thì sao?” Hòa Kính đang lúc cao hứng liền vội vàng nói.
Chơi cờ nhảy mà còn phải nhường nàng ba bước, truyền ra ngoài thì Trần Nhược Tuyết còn mặt mũi nào nữa! Nàng kiên quyết lắc đầu: “Không chơi nữa, Hòa Kính, bài vở của con đã làm xong chưa? Ta nghe Hoàng hậu nương nương nói con còn phải làm một cái mạt ngạch cho Thái hậu nương nương nữa, làm xong chưa?”
Vừa nhắc đến chuyện này, khuôn mặt nhỏ nhắn của Hòa Kính lập tức xị xuống, ngay cả Vĩnh Liễn và Hòa Uyển đứng bên cạnh cũng không nhịn được mà cười thầm. Nữ công của Hòa Kính đương nhiên là tốt hơn Trần Nhược Tuyết một chút, nhưng điều đó không có nghĩa là cô bé thích làm những việc này. Cô bé rất thích đọc sách, cưỡi ngựa, bắn cung, nữ công chỉ là thứ bắt buộc phải học mà thôi. Là đích Công chúa, cô bé là tấm gương cho các cách cách trong tông thất, không thích cũng phải học.
“Uyển nương nương~”
Trần Nhược Tuyết thật đúng là “bình nào không mở lại mở đúng bình đó”.
“Ta tin tưởng con, Hòa Kính con nhất định sẽ làm được!” Trần Nhược Tuyết an ủi một cách thiếu chân thành.
Khiến Hòa Kính tức đến nghiến răng nghiến lợi.
Kết quả là Hòa Kính ôm bộ cờ nhảy của Trần Nhược Tuyết chạy mất, nàng cũng chẳng bận tâm: “Cho con mượn chơi hai ngày, nhớ trả lại cho ta, nếu không ta sẽ đến tận cửa đòi đấy nhé.”
Từ xa vọng lại tiếng “hừ” một cái rõ to của Hòa Kính.
Vĩnh Liễn rất ngạc nhiên trước cách hành xử của hai người, thấy vậy liền đứng dậy: “Uyển nương nương, Vĩnh Liễn xin cáo lui.”
“Uyển nương nương, con cũng đi đây, lần sau lại đến tìm người chơi, Uyển nương nương phải nhớ con đấy nhé.”
Hòa Uyển cũng ngày càng hoạt bát hơn, cô bé nhút nhát ít nói vốn chỉ dám đi sau lưng Hòa Kính ngày nào, giờ đây cũng đã dám nói đùa những câu hóm hỉnh rồi.
Trần Nhược Tuyết đưa tay xoa nhẹ má Hòa Uyển: “Được rồi, Uyển nương nương bắt đầu nhớ con từ bây giờ đây.”
Hòa Uyển lập tức đỏ mặt, vui vẻ cáo lui.
Lại dành cả ngày chơi với trẻ nhỏ, Trần Nhược Tuyết vươn vai một cái. Quả nhiên, chỉ cần không phải mình sinh mình nuôi, trẻ con cũng khá là thú vị.
Bình luận truyện
Đang update